Thứ năm, ngày 24 tháng một năm 2013

Đừng để khi quá muộn, trường hợp ông Lê Đức Thọ

Minh Diện
Ông Lê Đức Thọ những ngày cuối đời
Ông Lê Đức Thọ những ngày cuối đời
Ông Ung Văn Khiêm, con trai thứ cụ Ung Văn Tre*, quê huyện Chợ Mới, An Giang. Cụ Ung Văn Tre là người đầu tiên đến Chợ Mới khai khẩn đất hoang, lập trang ấp, người xưa gọi cụ là ông Chủ Tre.
 Trong cuộc khởi nghĩa Trương Định 1862-1864, Chủ Tre đóng góp nhiều của cải và trực tiếp tham gia nghĩa quân chống thực dân Pháp. Cụ có người con trai nổi tiếng thông minh là Ung Văn Khiêm. 
          Với truyền thống yêu nước, Ung Văn Khiêm đã tham gia chống Pháp khi còn đang học ở trường College de Cantho. Dù là một công tử con nhà giàu, một trong hai học sinh giỏi nhất, được cấp học bổng toàn phần, nhưng Ung Văn Khiêm đã tổ chức bãi khóa và tham gia biểu tình biểu tình liên tục.
Năm 17 tuổi, ông theo thầy Châu Văn Liêm dấn thân hoạtđộng cách mạng. Ông đến với chủ nghĩa cộng sản, trở thành đảng viên  Đảng cộng sản Việt Nam, làm tới chức Uỷ viên Trung ương đảng, Bộ trưởng Bộ ngoại giao.
            Ông từng bị Trưởng ban tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ và phe phái trù dập thẳng cánh, vu cho tư tưởng xét lại và những chuyện oan trái, gây bao nhiêu cay cực.  Với tính khí nghĩa hiệp được truyền lai của “người mở đất” ông về làm dân không chịu cúi đầu.
            Không biết có phải do lương tâm bị day dứt không, mà Lê Đức Thọ đã tìm gặp Ung Văn Khiêm vào lúc cuối đời. 
            Đầu năm 1991, tôi đến thăm cụ Ung Văn Khiêm, cụ kể cho nghe câu chuyện sau đây:
            Một buổi sáng năm 1978, tôi đang chăm đàn heo thì bà vợ báo có ông Sáu Thọ tới thăm. Trời đất ơi, sao tự nhiên thằng cha mắc dịch tới thăm vào giờ này? Thôi kệ , tắm cho heo đã!
               Tắm heo xong, lên  thấy ông Sáu Thọ đang thơ thẩn ngoài sân.  Ông cười bắt tay tôi, nói:
                – Hôm nay tôi tới mời cụ ra giúp việc cho dân cho nước !
            Trời đất ơi, lại chơi trò gì nữa đây! Tôi nghĩ vậy và nói thật lòng:
                – Ông không sợ thằng cha xét lại  làm hỏng việc của Đảng sao?
              Ông Lê Đức Thọ vỗ vai tôi:
                -Thời bình cần có người liêm chính như cụ!
            Tôi nhìn ông Sáu Thọ vẫn như xưa, da mặt tai tái, miệng cười nhếch nửa mép, mắt nhọn như kim, một khuôn mặt sắc lạnh không có tình người. Tôi nói:
                 – Nếu đất nước còn chiến tranh, ông giao việc gì tôi cũng làm. Bây giờ hòa bình rồi, tôi đã có tuổi, được ông cho nghỉ việc đã lâu,  nhảy ra làm người ta nói tôi tham quyền cố vị. Vậy xin ông miễn cho!
            Ông Lê Đức Thọ cười, nắm tay tôi, nói:
                – Tôi có gì không phải mong cụ bỏ qua cho!
             Tôi nói:
                 – Tôi mừng vì ông nói được câu ấy! Với ông là chuyện nhỏ! Nhưng còn với đất nước?
             Ông Lê Đức Thọ nói nhỏ nhẹ:
                  – Thôi thì để cho lịch sử phán xét!
             Trần Bạch Đằng, một nhà báo có tài, và là một chính khách, từng làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Gia Định, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương cục miền Nam. Ông là một trong những người bị Lê Đức Thọ ghét, “đì” tới số. Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Trần Bạch Đằng bị Lê Đức Tho đẩy sang Cu Ba, không cho tham dự, đồng nghĩa với việc loại khỏi danh sách nhân sự.
                 Ông Trần Bạch Đằng có lần kể lại câu chuyện sau đây với tôi và nhà thơ Văn Lê:
                 Một buổi sáng tao đang ngồi viết trên lầu thì con cháu vào nói: “Chú Tư có bác Sáu Thọ tới thăm!”. Tao nghĩ chắc con nhỏ nhầm. Xưa nay người ta tìm tới Sáu Thọ qụy lụy chớ cha ấy thèm tới ai ?
           Nhưng khi xuống thỉ thấy đúng là Sáu Thọ. Cha đứng ngoài cửa, không vô nhà. Tao giựt mình vì mặt Sáu Thọ nhợt nhạt không còn thần sắc. Kiểu này chắc không được bao lâu nữa!?
           Sáu Thọ nhích mép cười, nói:
                – Tôi biết cậu là người có tài. Ngày đó nếu cậu đến tôi, nói với anh Sáu vài lời, thì cậu chắc chắn là Ủy viên Trung ương khóa IV, là Ủy viên Bộ chính trị. Nhưng cậu là con ngựa bất kham, không điều khiển được.
           Dừng một khá lâu, ông Lê Đức Thọ mới nói tiếp, không suồng sã thân mật như trước mà giọng trầm xuống, khách sáo và như nhắc nhở:
                – Tôi được biết anh đang viết một quyển sách nói nhiều chuyện về tôi. Hôm nay tôi tới xin anh một điều, khi tôi còn sống anh đừng xuất bản quyển sách đó. Sau khi tôi chết, con người tôi lịch sử sẽ phán xét.
           Nghe Sáu Thọ nói vậy, tao trả lời ông:
               – Quyển sách đã in rồi, nhưng anh nói vậy, tôi sẽ hủy!
            Có lẽ ít người biết những câu chuyện như thế về “trái tim thép” Lê Đức Thọ, người từng thừa nhận mình là “Trần Thủ Độ” của Đảng cộng sản ViệtNam. Bao năm uy quyền tập trung trong tay ông, những kẻ khéo nịnh bợ được vinh thân phì gia, những người không chịu cúi luồn  bị bạc đãi, bao nhiêu người từng bị đày đọa không ngóc đầu lên được.
            Những tưởng con người ấy kiêu hãnh suốt đời?
            Nhưng khi quyền lực đã rời bỏ mình thì hiện hữu lại là một tấm thân mềm yếu, “trái tim thép” hình như bị nhũn ra như bùn. Không hiểu vì lương tâm thức tỉnh hay vì nguyên nhân gì, chỉ biết 6 tháng sau buổi gặp ấy,  ông Lê Đức Thọ qua đời.  Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, nơi dành cho những cán bộ cao cấp nhất của Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam, nhưng nghe  nói sau đó gia đình phải chuyển về quê!?
           M.Gaddafi, “Vua của các vị vua” từng tàn sát 200.000 người, và những ngày tháng cuối cùng của chế độ độc tài, đã giết hại 23.000 người, bắt bỏ tù 50.000 người không ghê tay, mà mềm yếu đến đê hèn khi quỳ lạy người lính: “ Xin đừng bắn tôi!”.
          S. Husen, ria mép giống hệt ria Stalin, nổi tiếng độc tài khát máu, phút cuối cùng còng lưng rụt đầu vào cổ chiếc áo sơ mi trắng, ôm quyển kinh Koran, miệng lảm nhảm xin tha chết.
           Nicolae Ceausecu, Chủ tịch đảng cộng sản Rumnia, từng mệnh danh “Conducator” – Lãnh tụ tối cao “Geniul din carpati” – Thiên tài, đã quỳ khóc sướt mướt khi bị bắt trên đường  trốn sang Nga, và sau đó cả hai vợ chồng đều bị xử bắn sau một phiên tòa kéo dài hai tiếng đồng hồ.
          Hơn 2.500 năm trước Đức Phật Thích Ca đã cho ra đời triết lý  Vô Thường, và hình như thuyết Tương đối của Albert Einstein cũng dựa trên ý tưởng ấy. Đừng ảo tường chế độ tồn tại vĩnh viễn, quyền lực trong tay mình là tuyệt đối, kẻo hối không kịp.
                Ông Lê Đức Thọ là một con người đầy bản lĩnh, nhiều tham vọng, đa nghi và rất thủ đoạn.
                Ông sinh năm 1911 tại Nam Trực, Nam Định, từng tham gia bãi khóa , dự lễ tang nhả chí sỹ Phan Chu Trinh và hoạt động trong phong trào học sinh yêu nước nên bị  Pháp bắt giam hai lần (1936, 1944).
                   Ông từng làm Bí thư kiêm Trưởng ban Tổ chức Xứ ủy Nam Kỳ (1948-1954). Nhưng chức vụ mà ông giữ lâu nhất là Trưởng ban tổ chức Trung ương. Ngay cả khi làm Bí thư Thường trực ông vẫn kiêm Trưởng ban tổ chức.
                   Người ta nói Lê Đức Thọ là người tạo ra bộ máy lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam suốt bốn thập kỷ (1954-1994) và cho tới bây giờ vẫn còn gốc gác ấy. Người ta còn nói ông thường vận dụng “Nhân tướng học” để chọn cán bộ, và bất kỳ ai trái ý ông đều trở thành nạn nhân, tiêu biểu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông chuyên trách công tác Tổ chức Đảng, nhưng khoái cầm quân, ham chiến đấu, xông vào chiến dịch Mậu Thân 1968, chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 và tấn công đánh đuổi Polpot trên đất Campuchia 1-1979.
                  Ông Lê Đức Thọ nổi tiếng trong vai trò Cố vấn tối cao cho phái đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pari, ông đã từ chối nhận một nửa Giải Noben hòa bình với tiến sỹ Kissinger.
                 Ông  mất ngày 13-10-1990 để lại nhiều tiếng tốt, không ít điều xấu, nhưng, như ông nói, hãy để cho lịch sử phán xét.
                Tôi chỉ kể lại hai mẩu chuyện có thật tôi được nghe,  như một chi tiết nhỏ trong cuốn lịch sử chưa viết về ông Lê Đức Thọ.
               Khi con người nắm quyền lực trong tay, phần vì hãnh tiến, phần sợ bị kẻ khác tước đoạt hoặc lợi dụng, trở nên đa nghi, tàn nhẫn, đôi khi mê muội, mất cả lương tâm, hại cả bạn bè người thân.
            Những con người đó đều sẽ rơi vào trạng thái bi kịch, hụt hẫng khi quyền lực tuột khỏi tay, mà không ai tránh khỏi.
               Con chim sắp chết hót hay, con người sắp chết nói thật, hình như rất đúng với trường hợp ông Lê Đức Thọ. Tôi được biết trước khi mất ông gặp nhiều người chứ không riêng ông Ung Văn Khiêm và Trần Bạch Đằng.
M.D
…………
* Chỗ này tác giả nhầm, ông Ung Văn Khiêm là cháu nội cụ Ung Văn Tre, không phải con thứ.

10 nhận xét:

  1. Tui thì đang đấu tranh để kiếm miếng ăn, huhuhu, này nào cũng đọc bài của Mr Minh Diện, mất thời gian quá, mà không đọc thì không làm được việc gì.

    Trả lờiXóa
  2. Nguyên nhân chính cũng là do độc tài !
    Thời xưa của cải vật chất chưa nhiều mà đã vậy. Bây giờ chính thể tiếp tục pháp huy để xứng tầm thời đại. Thậ vậy, như gã X vẫn trơ mặt rao giảng đạo đức chỉ đạo này nọ... nhìn muốn mắc ói.

    Trả lờiXóa
  3. Theo tôi cái đáng kể nhất của ông Lê Đức Thọ là việc đàm phán thành cong Hiệp định hòa bình Paris với Ngoại trưởng Hoa kỳ H. Kissinger.
    Cũng theo nhiều tài liệu thì nói rằng trong quá trình đàm phán thì đoàn Ngoại Giao VN có ban cố vấn rất tài giỏi,trong đó nổi bật nhất là ong Nguyễn Cơ Thạch ,thứ trưởng Bộ Ngoại Giao VNDCCH,ngoài ra ông Thọ còn được hệ thống tình báo ,và Bộ chính tri Đảng CSVN tại Hà nọi cung cấp thông tin và chỉ đạo đường hướng đấu tranh ngoại giao với Hoa kỳ rất chặt chẽ.
    Trong thực tế thì ông Lê Đức Thọ đã đóng tròn vai của mình trong cuộc hội đàm Lịch sử này.
    Tuy vậy thành công ngoại giao của ong Thọ còn phụ thuộc vào kết quả ở chien trường Miền nam ,đặc biệt là Phòng không Bắc Viet bẻ gẫy cuộc tập kích B52 trên bầu trời Hà nọi tháng 12/1972 do tướng Giáp chỉ đạo .
    Nhưng về công tác tổ chức thì ông Thọ bị nhiều dư luận chê trách,nhiều tài lieu của Đảng CSVN chưa được giải mật nên rát khó đoán,như vụ chống đảng trong đó có cụ Vũ đình Huỳnh ,Bí thư riêng của Hồ chủ Tịch ,tướng Đặng Kim Giang ( chủ nhiệm Hậu cần Điện Bien Phủ ,trong Hòi ký tướng Giáp),ông Lê Liêm chủ nhiệm chính trị trận Điện bien phủ đều là những người bị ô Le Đức Thọ trù úm,thậm chí phải vào tù.
    Trường hợp ông Ung văn Khiêm một trí thức Nam Bộ,và ông Trần Bạch Đằng đều là những người tài giỏi bị " đè " không nổi lên được và một số người khác ,đều là lỗi của ô Lê Đức Thọ.
    Theo tôi người ta rồi cũng "giải oan khéo " và trả lại sự thật cho lịch sử một cách âm thầm không ầm ĩ,kiểu như trao huân chương,hoặc trao tặng giải thưởng nhà nước cho mấy ông thời Nhân văn Giai phảm như Hoàng Cầm ,Trần đức Thảo ,Nguyễn Bính thay vì nhận lỗi một cách gián tiếp thôi.
    THÍCH NÓI THẲNG

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. đặc biệt là Phòng không Bắc Viet bẻ gẫy cuộc tập kích B52 trên bầu trời Hà nọi tháng 12/1972 do tướng Giáp chỉ đạo
      ---

      Điểm này không đúng. Mục đích của Nixon khi ra lệnh bỏ bom Hanoi (Christmas bombings/Linebacker II) là để áp lực Thọ trở lại bàn hội nghị, và Thọ đã trở lại Paris để ký cái hiệp định mà trong đó các điều khoản chẳng khác gì các điều khoản trước khi Thọ bỏ hội nghị về Hanoi. Khi ngưng dội bom, Nixon vẫn còn nhiều B52 và bom để sẵn sàng dội... Tóm lại, nếu Thọ không bỏ họp về Hanoi thì đã không có B52 dội bom, và nếu Thọ không trở lại Paris để tiếp tục thương thuyết thì Nixon sẽ tiếp tục dội bom ...

      Cuộc dội bom đó là 1 chiến thắng của Nixon trong tổng thể cuộc thua trận của USA trong chiến tranh Việt Nam.

      Lê Đức Thọ bỏ cuốc họp để tạo áp lực với Nixon và hy vọng Quốc Hội Mỹ khi bắt đầu vào ngày 3 tháng giêng 1973 sẽ áp lực Nixon và đòi chấm dứt chiến tranh với bất cứ giá nào ...

      Xóa
    2. Gửi bạn Vietspoft thân mến .
      Bạn đã quá nhầm lẫn và thiếu hiểu biết về Hiệp định Paris.
      Phải nói cho rõ là ,tổng thống R. Ních sơn ra lệnh ném bom Hà Nội là để gây áp lực cho Hà nội trở lại bàn hội nghị ký kết những điều có lợi cho Hoa kỳ và Chính phủ VNCH của Ng Văn Thiệu.
      Nhưng điều này cả Hoa kỳ và VNCH đã không thể thực hiẹn được .
      Trong các điều khoản 2 bên VN và Hoa kỳ thỏa thuận mà Hoa kỳ vẫn chưa hài lòng do phản ứng của ông Ng Văn Thiệu trước khi ném bom là :
      1 - Các sư đoàn quân chính quy Bắc việt vẫn ở lại Miền Nam theo thế cài răng lược với quân lực VNCH.
      2 - Hoa kỳ phải triệt thoái các căn cứ quân sự và rút hết quân đội của mình và các nước chư hầu ( Úc , Thái lan ,Đại Hàn ...) ra khỏi Miền nam VN.
      - Bắc Việt sẽ phóng thích tất cả tù binh ( khoảng gần 700 người ) là những phi công Hoa kỳ bị bắn rơi phải nằm trong tù Hỏa lò Hà nội được hồi hương về Mỹ.
      3 - Khẳng định tại Miền nam VN có 2 chính quyền và 2 lực lượng quân đội song song ,đó là chính phủ VNCH do ông Thiệu cầm đầu và Chính phủ CMLT CHMN VN ( tức Mặt trận Dân tộc GP MN VN ) và lực lượng thứ 3.
      Chính Phủ VNCH của ô Ng Văn Thiệu về cơ bản không đồng ý nội dung cơ bản HĐ này ,ông ta đòi Bắc Việt phải rút hết quân ra khỏi Miền nam có kiểm chứng Quốc tế.
      Hoa kỳ đã ném bom Hà nội với 1 nỗ lực cuối cùng để ép Hà nội chấp nhận yêu sách của ông Thiệu.
      Nhưng pháo đài bay đã không lật được thế cờ,hàng loạt phi công Hoa kỳ tiếp tục dẫn nhau vào Hỏa lò,bị Hà nội họp báo bêu riếu trên truyền thông thế giới.
      Hoa kỳ công bố họ bị rơi 16 B52,4 chiếc bị thương nặng,5 chiếc khác bị thương vừa ,Còn Hà nội thông báo bắn rơi 34 B52 ( 16 rơi tại chỗ),đó là chưa kể các loại máy bay tiêm kích khác.
      Hoa kỳ đã phải đơn phương tuyên bố ngừng không kích HN,và Hội Nghị Paris đã được nhóm họp 4 bên ,Hiệp định được ký ngày 27/1/1973 theo 4 nội dung cơ bản như đã nêu ở trên ,sao có thể bảo Hoa kỳ ném bom thắng lợi ép Hà nội ký các điều khoản theo ý HK được ?.
      Bạn Vietsoft tham khảo thêm Hồi ký R. Ních son,Hồi ký Kissinger,các bản tin BBC,RFI ,VOA ,UPI ,Roitơ thì sẽ rõ thêm.
      Như vậy rõ ràng Hà nội đã từng bước đạt mục tiêu chiến lược của mình mà họ đã công khai như Chủ tịch Hồ chí Minh đã nêu lên nhân dịp tết Năm 1969 :
      "Vì độc lập vì tự do,Đánh cho Mỹ cút ,đánh cho ngụy nhào."
      Và sau này ,sau khi Hoa kỳ rút quân ,thì sự tồn tại của chính phủ VNCH Ng Văn Thiệu đã được Bắc Việt lên giây cót và định giờ khai tử : 11 h ,30 ngày 30/4/1975 tại sài gòn. TNT

      Xóa
  4. Bài viết thâm thúy quá! Đời là vậy đó!

    Trả lờiXóa
  5. "phút 89" tiếc thay con người chỉ nói thật khi chuẩn bị chầu trời.

    Trả lờiXóa
  6. Âu cũng là một kiếp người. Sáu Thọ đã mất Đức rồi thì biết làm sao? Sau khi em đọc Tổ quốc ăn năn thì không ghét ổng nữa, bởi vì đã phàm có máu phù sa vào người thì luôn tự cho mình cái quyền hơn tất cả mọi người vì sánh mình ngang hàng với Hoàng đế Quang Trung.

    Trả lờiXóa
  7. Lê đức Thọ lúc"CÒN VANG BÓNG MỘT THỜI" khiếp lắm,máu sắt,độc ác và gian hùng vào bậc nhất thế giới-Sau cùng đi về đâu?-ĐI VỀ LÒNG ĐẤT.-để lại những gì?-NỔI ĐAU ĐỚN VÀ LÒNG CĂM THÙ MUÔN THUỞ TRONG LÒNG BẠN ĐỒNG CHÍ CŨNG NHƯ TRONG LÒNG NHÂN DÂN.

    Trả lờiXóa
  8. Tục ngữ có câu-"trâu chết để da,người ta chết để tiếng" là trường hợp nay đây!

    Trả lờiXóa