Friday, July 3, 2015

Sự thật về “Báo cáo nghiên cứu khoa học: ĐÔ ĐỐC ĐẶNG TIẾN ĐÔNG, MỘT TƯỚNG TÂY SƠN CHỈ HUY TRẬN ĐỐNG ĐA”của Giáo sư Phan Huy Lê.


          – Đã tìm được lai lịch hoàn chỉnh của Đô đốc Đặng Tiến Giản.  
                   
Phản biện của Luật gia Lê Ngân

(nhà báo Hà Nội)

LNĐ- Năm 1974, trên cơ sở khai thác các di bản đời Tây Sơn mới được phát hiện ở Lương Xá (Chương Mỹ Hà Tây cũ nay thuộc Hà Nội) giáo sư Phan Huy Lê (PHL) đã công bố bài báo: ”Đặng Tiến Đông, một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa” đã được đăng ký vào danh sách các “Báo cáo nghiên cứu khoa học” của Khoa Sử trường Đại Học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Hà Nội. Song từ sau năm 1999 đến nay công trình nghiên cứu khoa học này đã có phản biện qua các bài báo của Đỗ Văn Ninh,Trần Văn Quý,Lê Trọng Khánh đăng trên cuốn Đối thoại sử học(NXB Thanh Niên 2000), nhưng chưa được các cơ quan chức năng có liên quan quan tâm giải quyết.!


  nhà báo và là người yêu sử học,cũng là người có quan hệ thân quen với các tác giả Đỗ Văn Ninh,Trần Văn Quý,từ sau năm 2000,tôi đã dành công sức, thời gian tìm thêm chứng cứ góp phần làm sáng tỏ nghi án này trên công luận. Đến tháng 12 năm 2007 tôi đã hoàn thành công trình phản biện:”Các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá (Chương Mỹ-Hà Nội) không nói về Đô đốc Long” và đã gửi kèm theo kiến nghị đến một số cơ quan chức năng và nhà nghiên cứu có liên quan.Từ đầu năm 2008, tôi đã nhận được một số hồi âm tích cực. Đáng trân trọng là bức thư tay của nguyên ủy viên Bộ Chính trị, bí thư thành ủy Hà Nội ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương Lê Xuân Tùng đề ngày 6 tháng 12 năm 2007 có đoạn: ”Bài viết công phu, lập luận chặt chẽ, căn cứ rõ ràng và trên hết rất tâm huyết.Tôi sẽ gửi văn bản cho các cơ quan chức năng theo yêu cầu của các đồng chí để giải quyết”.Tiếp theo là các công văn của một sơ cơ quan chức năng: Bộ Thông tin và Truyền Thông,Văn phòng Thành ủy Hà Nội…Riêng Bộ VHTT&DL có 2 công văn: công văn số 21/BVHTTDL/DSVH ngày 04/01/2008 do Thứ trưởng Trần Chiến Thắng ký và công văn số 4375/BVHTTDL-TTr ngày 01/12/2010 do thứ trưởng Lê Khánh Hải ký đồng: ”Kính gửi Viện Khoa học Xã hội Việt nam (đồng gửi Viện Sử học,Viện Hán nôm,ông Lê Ngân)cùng nêu nhận định: ”Đây là vấn đề có liên quan đến bộ môn khoa học lịch sử và văn bản học, trân trọng đề nghị Quý Viện xem xét, giải quyết và trả lời đơn thư của ông Lê Ngân”. Việc giải quyết phản biện vẫn bị ách tắc kéo dài trong khi từ cuối năm 2008 đến nay  nhiều báo in, báo mạng trong và ngoài nước vẫn tiếp tục đăng bài về nghi án này. Cuối năm 2014 tôi đã tìm thêm chứng cứ làm sáng tổ nghi vấn cuối cùng về nghi án lịch sủ này và đã có bài bổ sung phản biện “Báo cáo khoa học về Đặng Tiến Đông…”của GS Phan Huy Lê”, từ đầu năm 2015 đến nay đã được nhiều trang báo mạng trong và ngoài nước giới thiệu trên công luận.                                   .                                                                   .      Về lý thuyết, Đảng và Nhà nước quan tâm  giải quyết phản biện xã hội. Nhưng thực tế diễn ra không phải vậy!GS Ngô Bảo Châu từng nói: ”Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng!” Bộ Chính trị đã có Quyết định số 217/QĐ/TƯ ngày 12/12/2013 về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trân Tổ quốc VN và các đoàn thể xã hội”, nhưng qua thực tế giải quyết phản biện về “Đặng Tiến Đông” nêu trên qua gần 2 thập kỷ cho thấy các cơ quan chức năng vẫn thờ ơ, báo chí tránh né…(riêng báo mạng-lề trái trong nước và báo mạng ngoài nước rất nhiệt tình đăng kịp thời và đầy đủ).

 .                                                      

                                                            Phần I

  1-Một đoạn văn bia đời Tây Sơn bằng chữ Hán nhưng đã có hai cách khai thác                          . dẫn đến hai kết luận khác nhau.Cách nào đúng?

            a)Cách khai thác và sử dụng văn bia của GS Phan Huy Lê.                     .                                                                                                                                                                           .       Đầu thập kỷ 70 thé kỷ XX, trong một đợt sưu tầm tư liệu điền dã ở Hà Tây,giới sử học Hà Nội đã tìm thấy ở vùng Lương Xá ,Chương Mỹ (nay thuộc xã Lam Điền,huyện Chương Mỹ,Hà Nội) và ở chùa Trăm Gian cùng huyện Chương Mỹ nhiều di vật lịch sử đời Tây Sơn lần đầu tiên được biết đến.Ở Lương Xá có ba di bản bằng chữ Hán gồm: một đạo Sắc phong có niên đại Thái đức 10 (túc 1787),bộ phả “Đặng gia phả hệ toản chính thực lục” được biên soạn đầu đời Cảnh Thịnh (1792),và bài văn “Tông đức thế tự bi” khắc trên bia đá dựng ở chùa Thủy Lâm có niên đại Cảnh Thịnh thứ 5 (tức 1797);ở chùa Trăm Gian có một tượng gỗ được biết dưới tên tượng “Quan Đô”,một quả chuông đồng cùng có niên đại Cảnh Thịnh năm thứ ba (1794) và một phiến đã có khắc bài văn:”Đặng tướng công bi” có niên đại muộn hơn (1927).Qua khai thác các di bản,di vật nêu trên,GS Phan Huy Lê (PHL) phát hiện một võ tướng Tây Sơn chưa từng thấy chép trên các trang sử cũ về Tây Sơn:”Đô đốc Đặng Tiến Đông thuộc Đặng tộc danh giá ở Lương Xá” hơn nữa tác giả còn nhận định:”Đặng Tiến Đông chính là tên thật của Đô đốc Long,vị tướng Tây Sơn chỉ huy đánh thắng quân Thanh ở Đống Đa (1789)”.Căn cứ chủ yếu để tác giả PHL nêu nhận định như trên là ở đoạn văn “Tông đức thế tự bi” khắc trên tấm bia có niên đại đời Tây Sơn dựng trước sân chùa Thủy Lâm ở Lương Xá (gọi tắt :bia chùa Thủy Lâm).Văn bia có đoạn chép công trạng của người quá cố.Năm 1974,tác giả PHL đã dịch và giải thích:”Thái tổ Vũ Hoàng đế của hoàng triều,nghĩa thanh vang dội,đóng quân ở Quảng Nam ông(tức Đặng Tién Đông-T.g.) đến cửa quân xin yết kiến,được đón tiếp và đãi ngộ riêng,rồi được tin yêu ban cho ấn kiếm,giao cho thống lĩnh việc quân…Năm Mậu Thân (năm 1788-T.g.),đầu đời Quang Trung (hai chữ Quang Trung bị đục.T.g.),quân Bắc xâm chiếm nước Nam,ông (tức Đặng Tiến Đông-T.g.)phụng chiếu cầm đạo quân tiên phong tiến đánh làm cho quân Bắc tan vỡ,ông một mình một ngựa tiến lên trước dẹp yên nơi quân cấm.Vũ Hoàng đế vào Thăng Long,tiến hành khen thưởng ban riêng cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn…” Sử dụng đoạn văn bia bằng chữ Hán với lời dịch như trên (không kèm nguyên văn),tác giả PHL liên hệ,đối chiếu với tư liệu sử cũ chép về Đô đốc Long trong trận Tây Sơn đánh quân Thanh ở Đống Đa đầu năm Kỷ Dậu (1789)giải thích:”Năm Mậu Thân,đầu đời Quang Trung,quân Bắc-quân Thanh,xâm chiếm nước Nam,vâng mệnh Quang Trung,Đô đốc Long chỉ huy đạo quân Tây Sơn tiến đánh đồn Đống Đa,sau trận đánh chớp nhoáng tiêu diệt hàng vạn quân Thanh ở Đống Đa,Đô đốc Long một mình một ngựa dẫn đầu đoàn quân tiến trước vào Thăng Long đã sạch bóng tàn quân Thanh,Quang Trung vào Thăng Long đã khen thưởng ban tặng cho Đô đốc Long”. nhận định:” những điều trùng hơp giữa sử cũ và đoạn văn bia chùa Thủy Lâm đã chứng tỏ Đô đốc Long,Đô đốc Mưu,Đô đốc Đông chỉ là một người,Đặng Tiến Đông ở Lương Xá là tên thật và dòng tộc,quê quán của Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu”.(1) Những nhận định nêu trên của GS PHL chỉ mới là “giả thuyết” như chính tác giả thừa nhận nhưng nhanh chóng trở thành luận thuyết được giới nghiên cứu,các cơ quan chức năng có liên quan công nhận đưa vào từ điển,bảo tàng,sách giáo khoa…Thủ đô Hà Nội có tên đường Đằng Tiến Đông.Bài báo: ”Đặng Tiến Đông,một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa” của PHL  đăng trên tap chí Nghiên cứu Lịch sử (Viện sử học) số 154 tháng 01-1974 đã được đăng ký vào danh sách các “Báo cáo nghiên cứu khoa học”của Khoa Sử trường Đạị học Khoa học Xã hội và Nhân văn,Đại học Quốc gia Hà Nội.Cũng từ đấy tên Đô đốc Long bị đẫy lùi,được thay thế bằng tên Đô đốc Đặng Tiến Đông.Mọi việc tưởng đã được an bài nhưng sự thật diễn ra về sau không phải thế!

       b) Cách khai thác cùng cùng đoạn văn bia chùa Thủy Lâm của Đỗ Văn Ninh.

    . .. Người đầu tiên nêu phản biện đối với luận thuyết “Đô đốc Đông là Đô đốc Long” của GS PHL là nhà Khảo cổ học thông thạo Hán nôm Đỗ Văn Ninh(sau này là PGS-TS Đỗ Văn Ninh).Trong bài”Đô đốc Đặng Tiến Đông hay Đô đốc Long” của Đỗ Văn Niinh(ĐVN) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3 tháng 5-6 năm 1999 (đăng lại trên cuốn ‘Đối thoại sử học-NXB Thanh Niên 2000 cùng các bài của Trần Văn Quý,Lê Trọng Khánh) cũng trên cơ sở khai thác đoạn văn bia bằng chữ Hán ở chùa Thủy Lâm (Lương Xá) mà PHL từng khai thác sử dụng nhưng các  tác giả có bài trên Đối thoại sử học đã có hai ý kiến khác về cơ bản với nhận định của tác giả PHL:                                              .                                                 .     1-Tên của nhân vật chép bằng chữ Hán trên các di bản là chữ (với bộ “Nhật” một bên), chữ này phải đọc đúng là “Giản”(Đặng Tiến Giản) không thể lầm với bất cứ chữ nào khác) PHL đã đọc chữ Giản thành chữ Đông (Đặng Tiến Đông)là sai với nguyên văn chữ Hán trong di bản.                              .                                                                                                                                                                                                                                                    .      2-Văn bia chùa Thủy Lâm chỉ chép duy nhất niên đại trận Mậu Thân.nhưng PHL lại giải thích sự kiện và nhân vật trong văn bia diễn ra trong trận đánh năm Kỷ Dậu!Theo sử liệu hai trân Tây Sơn đánh ra Thăng Long vào năm Mậu Thân(1788) và vào năm Kỷ Dậu (1789) là hai trận khác về mục đích chiến lược,về sử dụng lực lượng về người chỉ huy,về đối tượng tác chiến,về ý nghĩa và ảnh hưởng…không thể nhầm lẫn!Trận Mậu Thân diễn ra đầu năm Mậu Thân,lúc quân Thanh chưa có mặt ở Thăng Long,Nguyễn Huệ chưa lên ngôi Hoàng đế với đề hiệu Quang Trung,chưa có trận Đống Đa với công trạng của Đô đốc Long!Nhân vật được tác giả biên soạn văn bia gửi thông điệp cho hậu thế là Đô đốc Đặng Tiến Giản và Đô đốc Giản không phải là Đô đốc Long

         3-Đúng như tác giả PHL đã công nhận:”trên các trang sử chép về Tây Sơn cho đến nay chưa có tài liệu nào nói đến tên Đô đốc Đặng Tiến Đông”.Song về tên Đô đốc Đặng Giản (Đặng Tiến Giản) người Lương Xá,dòng dõi của Đặng Nghĩa Huấn” đã có chép trong cuốn “Tây Sơn thuật lược” xuất bản đầu thấp kỷ XX dưới triều Nguyễn (2).

        Vậy cách khai thác nào là khoa học dẫn đến kết luận đúng đắn? Mặc dù cho đến nay,sau gần hai thập kỷ vẫn chưa có thẩm định từ các cơ quan chức năng nhưng đã có bằng chứng khách quan để phân biệt đúng-sai. 

        1)Bằng chứng từ nguyên văn chữ Hán trên các di bản PHL và ĐVN đã khai thác.   . . ……Các bài viết của cả hai phía PHL và ĐVN có sự khác nhau về cách dịch chữ Hán của họ tên nhân vật trên các di bản, cách dịch một số ngôn từ bằng chữ Hán trên đoạn văn bia chùa Thủy Lâm (Thái tổ Vũ Hoàng đế,Bắc binh nam mục…) từ đó dẫn đến 2 kết luận khác nhau,nhưng cả hai tác giả đều không kèm theo nguyên văn chữ Hán để chứng minh.Nhược diểm đó đã được khắc phục sau đó vài năm khi nguyên văn chữ Hán trên các di bản được tìm thấy và công khai trên công luận(3).         

         a) Bằng chứng về tên của nhân vật bằng chữ Hán trên các di bản.                           .                          Trước tiên là xác nhân tên của Đặng tướng công chép trên các di bản đúng là chữ - đọc là“Giản”, không phải chữ để đọc là “Đông”  Điều rắc rối là trên các di bản tên của Đặng tướng công được chép bằng hai chữ Hán có tự dạng giống nhau:phần lớn là chữ nhưng cũng vài chỗ chép chữ Đông kèm bộ Nhật() Tác giả PHL,nhóm biên dịch Đặng gia phả ký do Trần Lê Sáng chủ biên đã dùng tên Đặng tướng công chép bằng chữ để đọc tên nhân vật là “Đông”.


Ảnh chụp trang đầu quyển 2 bộ “Đặng gia phả hệ toản chính thực lục”minh chứng cho tác giả biên soạn là Đô đốc”Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản”.  
                    

(Ch Hán 東 嶺 侯  鄧 進 .Rất dễ phân biệt chữ Đông ‘ đứng đầu tước Đông Lĩnh hu vi ch Gin ’ họ tên Đặng Tiến Giản).                   

Chú thích:                

 Phiên âm,dịch nghĩa 2 câu đầu(từ phải sang):

Câu 1:Đặng gia phả hê toản chính thực lục quyẻn chi nhị”.Dịch nghĩa:”Gia phả họĐặng ghi chép những điều chính yếu.quyển thứ 2”.

Câu 2:”Giáp nhất chi,thống Vũ Thắng,Thiên Hùng Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản cẩn tập”.Nghĩa:”Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản thống lĩnh Vũ Thắng Thiên Hùng ở chi Giáp nhất kính cẩn biên tập”.

Về cách đọc tên Đặng tướng công chép trên bộ Thực lục,trong bài viết trên “Đối thoại sử học” tác giả Trần Văn Qúy đã cung cấp một bằng chứng có sức thuyết phục:chính Đặng Đô đốc,tác giả biên soạn bộ Thực lục đã mách bảo cho hậu thế biết cách đọc tên ông chữ Hán là chữ gì và chữ đó có ý nghĩa gì qua câu tự thuật ở trang cuối quyển 6 bộ Thực lục (phiên dịch):”Năm Mậu Ngọ, tháng 5,ngày 2,giờ Qúy Sửu,sinh con trai thư 8 (của Dận quân công và bà vợ lẽ Phạm Thị Yến-LN) là “Đông”()sau đổi thành (Giản)  ý theo tự vựng nói:sau khi mây mù tích mưa bổng thấy ánh mặt trời,cho nên đặt tên như thế” Chữ (đọc là Giản) có trong nhiều từ điển Hán ngữ.Chữ PHL đọc là “Đông không có trong có trong bất cứ từ điển nào của Trung Quốc cũng như của ta và cũng không gặp trong bất cứ sách vở nào ngoại trừ những tư liệu của Đặng tộc”(4). Đã không có trong từ điển thì căn cứ vào đâu để đọc chữ đó là “Đông”và đương nhiên mọi cách giải thích về chữ  “Đông” () này cũng chỉ là suy diễn không có căn cứ! Chẳng lẽ một gia tộc danh giá có học vấn như  Dận Quận công lại cải tên con từ một tên có nghĩa ()sang một cái tên “vô nghĩa?                                                                                                              .    b) Bằng chứng từ  đoạn văn bia bằng chữ Hán:

          Toàn bộ văn bia chùa Thủy Lâm gồm hơn 500 từ chứ Hán nhưng cả hai ông Phan Huy Lê và Đỗ Văn Ninh đều tập trung khai thác đoạn chép công trạng của Đặng Đô đốc:

Nguyên văn:   (…)    … … 禁武  

Phiên âm:”Kim triều đại tướng thống Vũ Thắng đạo Thiên Hùng đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản hệ xuất lệnh tộc giáp nhất chi,Yên quận công chi tôn,Dận quận công chi tử(…)thì,Hoàng triều Thái tổ Vũ Hoàng đế nghĩa thanh chấn bạc,quy trú Quảng Nam,công nhất kiến quân môn,mật mông tri ngộ,sủng ban ấn kiếm,ủy thống nhung huy.Ngưỡng lại thiên uy,nhất cử đãng định.Mậu Thân … …sơ (2 chữ bị đục),bắc binh nam mục,công phụng chiếu tiên phong đạo,tiến chiến nhi bắc binh hội.Công đơn kỵ đương tiên,túc thanh cung cấm.Vũ Hoàng giá lâm Thăng Long,sách huân hành thưởng,đặc tứ bản quán Lương Xá xã vĩnh vi thực ấp”(Đoạn in đậm là đoạn được chú ý khai thác và có 2 cách dịch khác nhau-LN).Đọc đoạn văn bia bằng chữ Hán trên cho thấy:văn bia đã chỉ rõ người được 2 ông Phan Ngô lập bia tưởng niệm là” Đại tướng chỉ huy Thiên Hùng trong đạo Vũ Thắng Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản thuộc chi Giáp nhất Đặng tộc,cháu của Yên Quận công,con của Dận Quận công đã từ Bắc Hà vào nam xin yết kiến Thái tổ Vũi Hoàng đế đóng quân ở Quảng Nam danh tiếng lừng lẫy,nhờ ơn tri ngộ,yêu ban ấn kiếm ,giao cho cầm quân.Ngửa nhờ oai trời,một lần cất quân là quét sạch giặc giả”.Đoạn này chính là nội dung đã được nói đến trong đạo Sắc Nguyễn Huệ ban cho Đặng Tiến Giản tháng 8 năm Thái Đức 10(tức 1787) tiếp theo là câu diễn tả công trạng của Đặng Đô đốc trong trận dánh lần đầu tiên tham dự dưới trướng Tây Sơn .nhưng văn bia không nói rõ Đặng Tiến Giản là danh tướng thuộc triều đại nào,đánh nhau với ai?Trên văn bia chỉ có những chữ:“kim triều”,”Thái tổ Vũ Hoàng đế”,”bắc binh nam mục”,”bắc binh hội”,…văn bia chỉ có 2 chữ Mậu Thân,hoàn toàn không có hai chữ Kỷ Dậu,cũng không có các chữ Tây Sơn,Đống Đa,Quang Trung,Đô đốc Long… Hai ông Phan,Ngô-đồng tác giả biên soạn văn bia là những danh sĩ nổi tiếng hay chữ của nước Nam vào thế kỷ 18 lại là số danh sĩ nhà Lê từng trực tiếp chứng kiến hai lần Tây Sơn đánh ra Bắc Hà tiến phạm Thăng Long vào hai năm Bính Ngọ(1786) và Mậu Thân (1788),riêng trong trận Tây Sơn đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu(1789) thì 2 ông đã trở thành danh thần dưới triều Quang Trung và đã có sự đóng góp đắc lực cho thành công của trận đánh vang dội này thì chắc hẵn hai ông đã không có sự nhầm lẫn hoặc không thiếu chữ để mô tả chân thật công trạng của Đặng Đô đôc mà buộc phải dùng những từ trừu tượng như trên là có dụng ý.

      .Văn bia chùa Thủy Lâm do 2 ông Phan, Ngô đồng biên soạn vào năm 1797 tức đã 5 năm sau ngày Quang Trung qua đời,vua kế nhiệm là Cảnh Thịnh bất tài để gian thần lộng quyền chia rẽ bè phái,nhiều trung thần thời Quang Trung bị sát hại,triều Tây Sơn đang tuột dốc trong khi thế lực thù địch là Nguyễn Ánh lại trỗi dậy mạnh mẽ đánh đâu thắng đó!Trong bối cảnh như thế,muốn tấm bia tưởng niệm Đô đốc Đặng Tiến Giản,người bạn lớn “đồng hương,đồng triều,đồng tâm,đồng chí” mà hai ông từng quý trọng được tồn tại qua mọi biến cố của thời cuộc,hai ông buộc phải sử dụng ngôn từ để ngụy trang che dấu tung tịch “Tây Sơn” cho người được tưởng niệm nhưng vẫn có cách để hậu thế tiếp cận thông điệp đích thưc 2 ông để lai qua văn bia..Chìa khóa để giải mã các ngôn từ ngụy trang  trên là ở hai chữ Mậu Thân chỉ niên đại trận đánh.Đây chính là chỗ khác nhau giữa hai lập luận của hai ông Phan Huy Lê và Đỗ Văn Ninh.Tác giả PHL nhận định trận chép trong văn bia là trận năm Kỷ Dậu từ đó giải thích:”Thái tổ Vũ Hoàng đế” là Quang Trung,”Bắc binh” là quân Thanh và “Đặng Đô đốc (tên Đông) chính là Đô đốc Long”! Tác giả ĐVN lại xác định văn bia chép trận Mậu Thân lúc chưa có quân Thanh ở Thăng Long,Nguyễn Huệ chưa lên ngôi Hoàng đế,chưa có trận Đống Đa do đó Đặng Đô đốc (tên Giản) không phải là Đô đốc Long.Cần nói rõ thêm về “Thái tổ Võ Hoang đế” và “Bắc binh nam mục”.”Thái tổ Võ Hoàng đế” là miếu hiệu của Quang Trung-Nguyễn Huệ có thể dùng chung để gọi Quang Trung và Nguyễn Huệ sau thời điểm Quang Trung-Nguyễn Huệ qua đời.Văn bia có 2 lần sử dụng miếu hiệu này: “Thái tổ Vũ Hoàng đế quy trú Quảng Nam” và “Vũ Hoàng đế giá lâm Thăng Long”.Như vây đã xác định 2 ông Phan Ngô dùng miếu hiệu để gọi Nguyễn Huệ (tiên đế) vì “Quang Trung” từ ngày lên ngôi (tháng 11 năm Mậu Thân) chưa có một ngày nào trở lại “quy trú Quảng Nam”.Vào đầu năm Mậu Thân chưa có “quân Thanh” ở Thăng Long, ”Băc binh” là để chỉ quân Băc Hà-nhà Lê do Chỉnh chỉ huy. ”Nam mục”,chữ “mục”() không nơi nào định nghĩa là “xâm lăng,xâm chiếm” mà có nghĩa là “chăn dắt”(mục đồng.mục sư) hoặc cai quản (châu mục).”Băc binh nam mục” dịch đúng nghĩa là “bắc triều (nhà Lê) đòi quyền cai quản (lĩnh thổ ) phía nam” phản ảnh đúng thực tiễn lịch sử là Chỉnh xúi dục vua Lê gửi quốc thư cho Huệ đòi lại quyền cai quản xứ Nghệ An khiến Huệ tức giận sai Vũ Văn Nhậm điều quân đánh ra Thăng Long để hỏi tội Chỉnh.”Bắc binh hội” là “bè lũ phản nghịch Chiêu Thống-Hữu Chỉnh”,Đô đốc Đặng Tiến Giản) được Huệ giao đi tiên phong trong đạo quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhâm chỉ huy.Sau chiến thắng Mậu Thân,Nhậm được giao trân Thăng Long,Giản trân Thanh Hoa.Nhậm sinh kiêu căng tự phụ..Ở Phú Xuân nghe tin,tháng 5 Mậu Thân,Huệ cấp tốc ra Thăng Long bắt giết Nhậm,khen thưởng tướng sĩ,Đặng Tiến Giản được ban làng quê Lương Xá làm thực âp vào dịp này (Vũ Hoàng đế gíá lâm Thăng Long…).        

                2)Bằng chứng từ tác phẩm”Tây Sơn thuật lược”..

Ảnh:Tây Sơn thuật lược NXB Phủ Quóc Vụ Khanh 1971-Vô danh thị-Bản dịch của Tạ Quang Phát    
                                                        
Danh tướng Tây Sơn “Đặng Tiến Giản” quê ở Lương Xá không phải mới được biết từ sau năm 1999 qua Đỗ Văn Ninh khai thác văn bia chùa Thủy Lâm.Thực ra họ tên,quê quán,công trạng của vị Đô đốc họ Đặng tên Giản trong hàng ngũ Tây Sơn đã được biết đến từ đầu thế kỷ XX,dưới triều Nguyễn qua tác phẩm bằng chữ Hán “Tây Sơn thuật lược”(5).”Tây Sơn thuật lược” (TSTL) chép về phong trào Tây Sơn từ lúc xuất hiện vào năm Tân Mão (1771) đến lúc diệt vong vào năm Nhâm Tuất (1802) nhưng tập trung vào lược thuật các sự kiện xảy ra từ năm Bính Ngọ-Cảnh Hưng thứ 47 (tức năm 1786) đến năm Nhâm Tuất (1802).Theo sử liệu giai đoạn này có ba trận quân Tây Sơn đánh ra Bắc Hà,tiến phạm Thăng Long,TSLT đều có chép với lưu lượng chi tiết khác nhau.Trận năm Bính Ngọ (1786) chỉ mươi dòng,trận Mậu Thân (1788) dài nhất với hơn một trang,trận năm Kỷ Dậu (1789)chỉ ba dòng!TSTL chép trận Mậu Thân với đầy dủ chi tiết như Hoàng Lê nhất thống chí đã chép nhưng TSTL là tác phẩm sử học duy nhất có bổ sung một danh tướng Tây Sơn chưa từng biết đến:Đô đốc Đặng Giản với đầy đủ tư liệu về lai lịch,chiến công từ đời Nguyễn Huệ sang đời Quang Trung….Cụ thể TSTL chép: ”Năm Đinh Vị (năm đầu Chiếu Thống)…vua Lê dùng Nguyễn Hửu Chỉnh coi giúp việc nước,phong tước cho Chỉnh làm Bằng Quận công.Mùa đông năm ấy vua Lê sai Ngô Nho,Trần Công Xán đem lễ vật địa phương cùng quốc thư cho Huệ,nói rằng Nam và Bắc mỗi bên đều giữ lấy cương thổ của mình,không đặng vượt khỏi bổn phận (sứ giả nói rõ vua Lê yêu cầu Huệ trả lại đất Nghệ An cho nhà Lê).Huệ giận lắm …khiến Tiết chế Nhậm đốc xuất bộ quân,Thái úy Điều đốc xuất thủy quân,Đô đốc Đặng Giản làm tiên phong nhằm kinh thành Thăng Long tiến phát… năm Mậu Thân (Chiêu Thống thứ hai) tháng giêng,Tây Sơn tiến phạm Thăng Long,vua Lê chạy đi Hải Dương,cha con Hửu Chỉnh đều bị bắt giết.Huệ cho Vũ Văn Nhậm trấn Thăng Long,Đặng Giản trấn Thanh Hoa (Giản là người Lương Xá,dòng dõi của Đặng Nghĩa Huấn”,…Mùa hạ, Huệ giết bề tôi là Vũ Văn Nhậm, lúc ấy Nhậm tại trấn, có kẻ tố giác Nhậm lộng quyền…Mùa đông tháng 11, Huệ tự  xưng Hoàng đế cải nguyên là Quang Trung. Tháng ấy vua Lê dùng quân Mãn Thanh lấy lại kinh thành Thăng Long. Năm Kỷ Dậu (niên hiệu Quang Trung thứ hai) tháng giêng, Huệ cả phá quân của Tôn Sĩ Nghị nhà Thanh ở Thăng Long. Vua Lê đi lên phương Bắc… Năm Canh Tuất (niên hiệu Quang Trung thứ ba) Huệ cho quan Đại tư mã Ngô văn Sở, quan Nội hầu Phan Văn Lân cùng người con thứ là Thùy (tức Nguyễn Quang Thùy-LN) trấn giữ Thăng Long, cho Tuyên (tức Nguyễn Quang Bàn,em Thùy-LN) trấn giữ Thanh Hoa, cho Đặng Giản làm Đại Đô đốc coi giữ Đại Thiên hùng binh…”. Đối chiếu đoạn trích dẫn TSTL với đoạn dịch và giải thích văn bia chùa Thủy Lâm của tác giả Đỗ Văn Ninh đã nêu ở điểm b-phần I cho thấy nội dung hoàn toàn trùng hợp.Tác phẩm TSTL xuất hiện vào đầu thế kỷ XX dưới triều Nguyễn trong lúc tấm bia chùa Thủy Lâm tuy đã có từ cuối thế kỷ 18 nhưng còn ẩn náu tại Lương Xá, mãi đến đầu năm 70 thế kỷ XX mới được phát hiện là di vật đời Tây Sơn,nhưng so sánh nội dung đoạn TSTL chép về trận Mậu Thân với đoạn văn bia chùa Thủy Lâm cũng chép về trận Mậu Thân cho thấy có sự trùng hợp kỳ lạ, hơn nữa còn có chi tiết bổ sung làm sáng tỏ thêm về nhân vật Đặng Tiến Giản chép trong văn bia:    

        -Đặng Giản () trong TSTL với Đặng Tiến Giản (鄧進)trong văn bia chùa Thủy Lâm chỉ là một người(cùng tên,cùng họ,cùng chức vụ,cùng quê,cùng dòng dõi Đặng Nghĩa Huấn…)                                                                                                                                       .     –Chức “thống lĩnh về Thiên Hùng” của Đặng Tiến Giản trong Sắc phong năm 1787 chưa có nhưng lần đầu xuất hiện cùng với tên ĐặngTiến Giản tác giả biên soạn bộ Thực lục (1792) tiếp theo trên bài minh khắc ở quả chuông “Quan Đô” tặng chùa Trăm Gian (1794) và cuối cùng là trên văn bia chùa Thủy Lâm (1797).Trong tài liệu khai thác năm 1794,tác giả Phan Huy Lê chép:”trong thời Quang Toản (1792-1802) ông (Đặng Tiến Đông/Đô đốc Long-LN)giữ chức Đại tướng thống Vũ Thắng Vệ Thiên Hùng Hiệu.”nhưng không nêu căn cứ từ nguồn sử liệu nào!Đến nay qua TSTL đã có căn cứ xác minh:”năm Canh Tuất Quang Trung 3 (tức năm 1790),Đặng Giản được giao coi giữ Đại Thiên Hùng binh”.                        .                                     .    - TSTL có chép về trận Kỷ Dậu (1789) nhưng không hề đả động đến vai trò của Đô đốc Đặng Giản trong trận này.Như vậy có thêm bằng chứng cho thấy:Đô đốc họ Đặng tên Giản không phải là Đô đốc Long.

       TSTL ra đời từ đầu thế kỷ XX dưới triều Nguyễn, năm 1968 lần đầu tiên được dịch và giới thiệu dưới chế độ Sàigòn nhưng người đầu tiên giới thiệu TSTL với giới nghiên cứu sử học Hà Nội và cũng là người đầu tiên chứng minh TSTL và văn bia chùa Thủy Lâm có nội dung giống nhau là PGS-TS Đỗ Văn Ninh vào đầu năm 1999.

.  

                                                           Phần II

   Tài liệu mới phát hiện bổ sung hoàn chỉnh lai lịch Đô đốc Đặng Tiến Giản.                                                                                                                                 .      Từ năm 1999, việc giới sử học Hà Nội phát hiện Đô đốc Đặng Tiến Giản-một danh tướng Tây Sơn mà chính sử cũng như Đặng tộc chưa biết đến là một đóng góp quan trọng cho lịch sử.Tuy nhiên vẫn còn một số điều về lai lịch Đô đốc Đặng Tiến Giản chưa giải thích được như:việc đổi tên từ tên“Đông” sang tên “Giản” vào lúc nào và vì sao phải đổi tên?Trước khi về với Tây Sơn (lúc đã 48 tuổi) Đặng Tiến Giản đã học hành,đổ đạt như thế nào,đã giữ chức tước gì ở Bắc Hà? Không thể tìm thấy lời giải cho các câu hỏi trên qua các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá và cả với Tây Sơn thuật lược! Đây cũng là câu hỏi GS PHL dành cho nhân vật “Đặng Tiến Đông”trong các bài viết của tác giả .[Cần chứ ý: nhân vật Đặng Tiến Đông do GS PHL giới thiệu với tên “Đông” chữ Hán là chữ hoặc chữ ,do vậy nhân vật Đặng Tiến Đông( )của GS PHL không dính dáng gì với nhân vật  Đăng Đình Đông (có nơi chép Đặng Tiến Đông) với tên chữ Hán “Đông” ()do tác giả Nguyễn Quang Thắng  phát hiện qua khai thác gia phả Đặng tộc ở Lương Xá.].                                                                    Gần đây, người viết bài này đã tìm được lời giải cho câu hỏi trên qua nghiên cứu nhân vật “Đô đốc Đặng Đình Đông(Đặng Tiến Đông)”(1738-1787)” (6) đăng trên cuốn từ điển “Nhân vật lịch sử Việt nam”(gọi tắt TĐ NVLSVN) của Nguyễn Quang Thắng- Nguyễn Bá Thế (Bộ mới.NXB Tổng hợp T.P.Hồ Chí Minh tái bản năm 2006) với tiểu sử  được giới thiệu như sau:

.     “Đặng Đình Đông (Đặng Tiến Đông)“là Đô đốc đời Lê Cảnh Hưng (Hiển tông) sinh ngày 18 tháng 6 năm 1738 tại kinh thành Thăng Long. Quê làng Lương Xá huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây); cháu sáu đời Nghĩa Quốc công Đặng Đình Huấn. Sinh trưởng trong một gia đình đại vọng tộc, cháu nội Thái tể Đại tư không Yên quận công Đặng Tiến Thự (còn có tên Trịnh Liễu), con trai thứ 8 của Dận Quận công Đặng Đình Miên, mẹ là Phạm Thị Yến. Bảy anh trai là:Đặng Đình Trí, Đặng Đình Thiệu, Đặng Đình Cầu, Đặng Đình Tự, Đặng Đình Giám, Đặng Đình Tú, Đặng Đình Hữu, tất cả đều được phong tước bá, tước hầu.Đặng Đình Đông xuất thân võ quan, từng lập được nhiều chiến công dưới đời chúa Trịnh Sâm được phong Đô đốc tước Đông Lĩnh hầu. Sau ngày chúa Trịnh Sâm qua đời (1782) nhà Trịnh đổ nát, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc dưới chiêu bài “phù Lê diệt Trịnh”. Sau khi trừ diệt họ Trịnh, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ trao lại chủ quyền Bắc Hà cho Lê Chiêu Thống rồi rút quân về nam..Sự đổ nát của triều Lê-Trịnh cùng sự hùng mạnh của Tây Sơn với anh hùng Nguyễn Huệ đã có ảnh hưởng sâu sắc trong tâm trí Đô đốc Đặng Đình Đông. Từ đầu năm Chiêu Thống 1 (1787) về sau, gia phả họ Đặng không viết rõ gia thế và hành trạng của Đô đốc Đặng Đình Đông.Theo gia phả:”Vệ quốc thượng tướng quân trấn thủ Thanh Hoa kiêm Nghệ An trấn Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng tướng công đại phụ tứ nguyệt thập tốt, hoàng triều Chiêu Thống nguyên niên nhị nguyệt cát hạ phùng tra”. ”(7)Như vậy  Đặng Đình Đông đã mất đầu năm Chiêu Thống năm thứ nhất (tức đầu năm 1787).Theo cách lý giải này,Nguyễn Quang Thắng cho rằng:“Đô đốc Đặng Tiến Đông không thể là Đô đốc Long”. Điều đó là hoàn toàn đúng nhưng có thật đúng là Đô đốc Đặng Tiến Đông đã chết? Bộ phả “Thực lục” do Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản biên soạn vào đầu đời Cảnh Thịnh (1792) đã giúp hậu thế giải đáp câu hỏi trên.”.                                                             .  .       Trước tiên so sánh về lai lịch của “cậu ấm Đông” chép trên bộ Thực lục với Đô đốc Đặng Đình Đông trên TĐ NVLSVN thì từ lai lịch ông bà,cha mẹ, ngày tháng năm sinh,danh tính  7 anh trai đều hoàn toàn giống nhau. Chi tiết này xác nhận: ”cậu ấm Đông” trong bộ Thực lục và Đô đốc Đặng Đình Đông trên TĐ NVLSVN chỉ là một người nhưng bộ Thực Lục chỉ nêu lai lịch cậu “Đông” từ lúc sinh cho đến 10 tuổi theo học Doãn Xá tiên sinh,13 tuổi mồ côi cha rồi dừng lại không có chi tiết nào nói về giai đoạn trưởng thành.Sự khiếm khuyết này lại được tìm thấy trong tiểu sử Đô đốc Đặng Đình Đông trên TĐ NVLSVN.Trên thực tế cậu “Đông” con thứ 8 của Dận Quận công đã được học hành đỗ đạt (đỗ Tạo sĩ) từ năm 1763 (25 tuổi) ra làm quan dưới triều Lê Trịnh được phong chức Đô đốc tước Đông Lĩnh hầu.nhưng “đã chết” đầu năm Chiêu Thống nguyên niên (1787).Với chi tiết này liên hệ với câu “tự thuật”của Đô đốc Đặng Tiến Giản-người biên soạn bộ Thực lục,“Đông cải đổi tên thành Giản”(điểm a) đã cho thấy “Đông” chưa chết mà chỉ đổi sang tên “Giản”.Thời điểm cùng với ý nghĩa của việc đổi tên như trên được xác nhận tại đạo Sắc Nguyễn Huệ ban cho Đặng Tiến Giản ngày 3 tháng 7 năm Thái Đức 10(tức ngày 15-8- 1787). Đạo “Sắc” trên là cứ liệu xác minh sự kiện: đầu năm Chiêu Thông 1 Đô đốc Đặng Đình/Tiến Đông đã từ Bắc Hà lăn  lội vào Quảng Nam xin yết kiến Nguyễn Huệ.Để đoạn tuyệt giai đoạn phục vụ triều Lê-Trịnh,trước khi về với Tây Sơn,Đặng Đô đốc đã khai tử tên “Đông”,chọn đổi tên thành”Giản”với ý nghĩa chữ “Giản” là “từ chỗ tối bước ra chỗ sáng”(từ nơi tàn tạ,hỗn loạn cuối đời Lê-Trịnh tìm thấy ở Tây Sơn tương lai sán lạn như ánh dương). Như vậy Đặng tướng công ở Lương Xá là một người nhưng đã đóng vai trò của hai nhân vật lịch sử:-đầu đời (từ 1738-1787) là Đô đốc Đặng Đình/Tiến Đông thuộc triều Lê-Trịnh,(gia phả)-từ sau năm 1787 cho đến cuối đời là Đô đốc Đặng Tiến Giản thuộc triều Tây Sơn. (Sắc phong,văn bia chùa Thủy Lâm)               

        Với phát hiện mới như trên, toàn bộ lai lịch của Đặng tướng công ở Lương Xá với hai tên “Đặng Đình Đông”,”Đặng Tiến Giản” đã được bổ sung hoàn chỉnh.Cho đến đầu năm 1787 gia phả Đặng tộc chỉ có tên Đô đốc Đặng Đình Đông không hề có tên Đô đốc   Đặng Tiến Giản.Từ sau ngày Đặng Đình Đông gia nhập Tây Sơn (1787) thì gia phả Đặng tộc không còn tên Đặng Đình Đông và cũng là thời điểm xuất hiện tên Đặng Tiến Giản. Đây không phải là suy diễn mà là sự thật khách quan có căn cứ từ gia phả,Sắc phong,bia đá.!
                                                           LỜI KẾT:                                                                        .   ..       Trong báo cáo khoa học:“Đặng Tiến Đông.một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa”,tác giả PHL chỉ căn cứ vào một chi tiết được chép trong văn bia “…ông (Đặng Tiến Đông-t.g.) cầm đạo quân tiên phong tiến đánh làm cho quân Bắc tan vỡ,ông một mình một ngựa tiến lên trước dẹp yên nơi cung cấm” rồi liên hệ với các chi tiết sử sách đã chép về Đô đốc Long trong trận Đống Đa và kết luận:”So sánh các tài liệu thì những sự việc trước đây chép là của Đô đốc Long (hay Mưu),theo những tư liệu mới phát hiện và thu tập được lại là của Đô đốc Đông…Những điêu trùng hợp đó chứng tỏ Đô đốc Long,đô đốc Mưu,Đô đốc Đông chỉ là một người”.Chỉ cần nêu bằng chứng cho thấy văn bia chép trận năm Mậu Thân (1788) hoàn toàn không đề cập đến trậạ năm Kỷ Dậu (1789) cũng đủ đánh sập lập luận của tác giả PHL.Song cũng còn nhiều sự khác biệt giữa hai nhân vật cùng là danh tướng Tây Sơn dưới triều Quang Trung:Đô đốc Giản (theo PHL là Đô đốc Đông) và Đô đốc Long:.         .                                                 .          1-Theo gia phả,Đô đốc Giản thuộc dòng họ thế phiệt,xuất thân trong một gia đình quý tộc đời đời ăn lộc vua,bổng chúa,sinh ra và trưởng thành dưới triều Lê-Trịnh(Lê Hiển Tông và chúa Trịnh  Sâm) được học hành từ nhỏ,ngoài 20 tuổi đã đỗ tạo sĩ (tiến sĩ võ học) ra làm quan dứoi trướng chúa Trịnh Sâm đã lập nhiều chiến tích đánh dẹp nội phản được phong chức Đô đốc tước Đông Lĩnh hầu.Theo văn bia chùa Thủy Lâm,Đặng Tiến Giản có gia quyến cũng thuộc loại quý tộc:vợ Đông Lĩnh hầu là Trương phu nhơn con gái Cổn Quận công Trương Khuông cháu nội Phấn Quận công Trương Nhiêu,con gái lớn của Đông Lĩnh hầu được nạp phi tần (hậu cung triều Lê),con trai trưởng được phong tứ phẩm nhậm chức ở Thanh Hoa trấn .Vậy Đô đông Long có nơi nào chép đã từng là Đô đốc đời Lê dưới trướng chúa Trịnh Sâm và có gia quyến như trên?                                                                   .               .         .2-Là tác giả biên soạn bộ phả Thực lục rất có giá trị,Đô đốc Đặng Tiến Giản ắt phải là người có kiến thức toàn diện phong phú về mọi mặt:lịch sử,văn hóa xã hội,đạo đức nhân văn.Đặng Đô đốc còn biết phép cai trị rất được lòng dân như doạn kết của văn bia chùa Thủy Lâm nêu:”Dâng lòng trung tín ở Phủ thờ,người họ Đặng ai chẳng nghỉ đến đức hiếu thảo của Ngài.Ngửa mong ánh từ quang của đức Phật,Lương Xá đâu giám quên ân đức của Ngài để lại cho thôn dân nên lập bảng tuyên dương công trạng khắc vào bia để đời đời ghi nhớ”(Sơn Bình dịch) Như vậy;ngoài tài nghệ của một võ tướng, Đô đốc Giản còn là ngừoi có học vấn cao,có biệt tài về văn chương và giỏi cả về chính trị.Với Đô đốc Long có tài liệu cho biết xuất thân là thợ rèn,có võ nghệ cao cường,sức khỏe tuyệt luân nhưng nói Đô đốc Long là tác giả biên soạn bộ phả Thực lục là chuyện hoang đường cũng chưa có tài liệu nào chép Đô đốc Long có tài cai trị được thôn dân yêu mến! Từ hai nhân vật có nhiều đặc điểm khác nhau như trên việc tác giả PHL chỉ căn cứ vào một chi tiết “một mình một ngựa…”để so sánh và kết luận:”có sự trùng hợp chứng tỏ Đô đốc Đông,Đô đốc Long chỉ là một người” thì quả là một cách so sánh nông cạn,phiến diện.                                                                                                    . .           Qua phát hiện và phân tích như trên cho thấy “Báo cáo khoa học về “Đặng Tiến Đông…”của PHL thực chất là một tài liệu thiếu căn cúa khoa học,có nhiều sai lầm,thiếu sót..                                                         .             Xin được kiến nghị:                                                                                                         1) Xóa bỏ tên Đặng Tiến Đông từng chiếm chỗ Đô đốc Long trên các loại từ điển,trong bảo tàng,tên dường phố…trả lại sự tôn vinh vốn có của lịch sử giành cho danh tướng Đô đốc Long.,                                                                                                                                         2) Công nhận danh tướng Tây Sơn Đặng Tiến Giản từng được tiền nhân lập bia tưởng niệm tạc tượng thờ (dưới tên tượng Quan Đô) từ cuối thế kỷ 18 nhưng từ đầu thập kỷ 70 thế kỷ XX đến nay đã bị một bộ phận giới sử hoc khai thác sai lệch nguồn sử liệu dẫn đến chính sử và Đặng tộc bỏ sót.                                                                                                                                      3) Loại bỏ bài”Đặng Tiến Đông,một tướng chỉ huy trận Đống Đa”trong danh sách các “Báo cáo nghiên cứu khoa học” Khoa Sử trường Đại học KHXH&NV-Đai học quốc gia HN.                                                                                                                         4) Bộ VHTT&DL với chức năng,thẩm quyền của mình cần có biện pháp hiệu quả hơn để giải quyết dứt điểm nghi án lịch sử “Đặng Tiến Đông hay Đặng Tiến Giản”đã tồn đọng hơn một thập kỷ qua.                                                                                                                                             Hà Nội tháng 6 năm 2015                                                                                                       ************                                                                                                                         Chú thích:                                                                                                                                                                                                                             (1) ”Đặng Tiến Đông-một tướng chỉ huy trận Đống Đa” của Phan Huy Lê đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (Viện Sử học) số 154 tháng 01 năm 1974.                                               (2) Bài “Đô đốc Đặng Tiến Đông hay  Đô đốc Đặng Tiến Giản” của Đỗ Văn Ninh (Đối thoại sử học-NXB Thanh Niên 2000)                                                                                               (3) Bài “Tư liệu về vị tướng thời Tây Sơn ở Lương Xá (Chương Mỹ-Hà Tây)” của Trúc Diệp Thanh đăng trên Tạp chí Huế Xưa & Nay số 90 (11-12/2008).                                               (4) Bài “Phải gọi là Đô đốc Đặng Tiến Giản” của Trần Văn Quý (Đối thoại sử học-NXB Thanh Niên 2000).                                                                                                                     (5)
“Tây Sơn Thuật Lược” bằng chữ Hán không có tên tác giả cùng thời gian xuất bản lần dầu tiên được biết đến qua bài đăng toàn văn trên phần chữ Hán tạp chí Nam Phong số 148 (1930),được lưu bằng vi ảnh số 5/VAH4 của Viện Khảo cố Sàigòn(nguyên bản của Société asiatique Paris số HM 2178 Leg H.Maspéro).Lần đầu tiên đươc dịch ra tiếng Việt do Tạ Quang Phát chuyên viên Hán ngữ Viện Khảo cố Sàigòn thực hiên đăng trên Tạp chi Sử-Địa SG số Xuân Mậu Thân(1968),được in thành sách “Tây Sơn thuật lược-vô danh thị-Tạ Quang Phát (biên dịch)”xuất bản tại Sàigòn vào năm 1971.                                                                 6) Đặng tộc thường dùng lẫn lộn “Đặng Đình” (鄧廷) và “Đặng Tiến”(鄧進).Cùng tên một người nhưng gia phả có nơi chép Đặng Đình,có nơi chép Đặng Tiến..                                   (7) Theo gia phả “Vệ quốc thượng tướng quân trấn thủ Thanh Hoa kiêm Nghệ An” là  chức vụ đô đốc Đặng Đình Đông/Tiến Đông được giao dưới triều Lê-Trịnh không phải là do “Quang Trung phong cho Đô đốc Đông” như PHL nêu trong “báo cáo nghiên cứu khoa học về Đặng Tiến Đông”.Chữ tốt (卒)trong câu trên có nghĩa là “kết thúc” cũng có thể dịch là “chết” cũng có thể hiểu là thời điểm kết thúc về sự nghiệp ở Bắc Hà. của Đặng Đô đốc..                                                                                                              


 Sách tham khảo:                                                                                                                        -Hoàng Lê nhất thống chí,.(Nxb Văn học-2010)                                                                        
-Khâm định Việt sử cương mục.
-Quang Trung anh hùng dân tộc-Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (Nxb Thông tin tái bản 1998)
-Đặng gia phả ký.(Viện Hán nôm-2000)
-Đối thoại sử học (Nxb Thanh Niên 2000)
-Tư liệu điền dã vùng Huế thời kỳ Tây Sơn –Lê Văn Thuyên-Huỳnh Đình Kết-Lê Nguyễn  
  Lưu (Nxb Thuận Hóa 1998)
-Vua Quang Trung-Phan Trần Chúc-Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bình Định-2003)
-Từ điển Nhân vật lịch sử-Nguyễn. Quang Thắng-Nguyễn Bá Thế-Nxb Tổng hợp TP HCM-
  2000.


 
                                        BÚT TÍCH GS-TS LÊ XUÂN TÙNG

 

 

 



    
.

No comments:

Post a Comment