Sunday, September 13, 2015

Giáo sư Vuving: 'Trung Quốc nguy cơ đối mặt với biến động lớn'


Việt Anh
 
Giáo sư Alexander Vuving.
Ảnh: Nhân vật cung cấp
Sau một thời gian dài tạo dựng vị thế quốc tế bằng lợi thế hàng giá rẻ, Bắc Kinh đang bộc lộ những hạn chế, có thể dẫn tới biến động chính trị, xã hội lớn.
Giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, trao đổi với VnExpress về những vấn đề nội tại của Trung Quốc và dự báo diễn biến sắp tới.


 
- Trung Quốc đang phải đối diện với một loạt các vấn đề lớn như chứng khoán lao dốc, đồng Nhân dân tệ (NDT) phá giá, khủng bố ở Tân Cương, các vụ bê bối an toàn vệ sinh thực phẩm, cháy nổ. Những vấn đề này cho thấy điều gì trong mô hình phát triển của Trung Quốc?

- Tôi không chắc các vụ việc cụ thể nêu trên có liên quan trực tiếp gì đến nhau, nhưng nếu chúng có chung một nguyên nhân sâu xa thì nguyên nhân đó nằm ở sự phát triển hết sức thiên lệch của Trung Quốc.

Trong hơn 30 năm qua Trung Quốc đã trở thành "công xưởng" của thế giới, sản xuất hàng hoá vừa nhiều, vừa rẻ nên đã tràn ngập toàn thế giới. Nhưng khi tìm cách hạ giá thành sản phẩm thì người ta đã bỏ qua các tiêu chuẩn về an toàn, trong đó có an toàn của chất thải ra môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động. Hệ thống quản lý của Trung Quốc, phần vì chạy theo tăng trưởng cao, phần vì quan liêu, vô trách nhiệm, phần do thông đồng với doanh nghiệp, nên đã không thiết lập được kỷ luật về an toàn, chất lượng, và môi trường.

Sản phẩm giá rẻ là một chìa khoá mở cửa con đường tăng trưởng cao của Trung Quốc. Một trong những công cụ quan trọng mà Trung Quốc sử dụng để giữ cho sản phẩm của mình có giá rẻ trên thị trường thế giới là tỷ giá hối đoái. Vừa qua Trung Quốc hạ giá đồng NDT là một cách đối phó với sự đổ vỡ trên thị trường chứng khoán trong nước. Khi thị trường chứng khoán đổ vỡ, nền kinh tế sẽ chững lại, hàng hoá không bán được nhiều, phá giá đồng nội tệ là một cách để đẩy tiêu thụ hàng hoá ra thị trường ngoài nước, khơi luồng lưu thông cho nền kinh tế.

Một thiên lệch nữa trong phát triển ở Trung Quốc là chủ yếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không có nhiều tiến bộ xã hội đi kèm, nhất là trong vấn đề chung sống giữa các sắc dân có xung đột về lịch sử và văn hoá. Trong một thế giới mà thông tin lan toả rất nhanh, điều này rất dễ làm gia tăng các xung đột sắc tộc và tôn giáo. Thế nhưng hệ thống quản lý của Trung Quốc không có cơ chế hiệu quả để lắng nghe tâm tư của các nhóm người yếu thế và để điều hoà các lợi ích khác biệt trong xã hội.

- Đánh giá chung của ông về giai đoạn phát triển hiện nay của Trung Quốc?

- Trung Quốc đang đi vào một giai đoạn bất ổn hơn trước rất nhiều. Lý do chính là vì nền kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc, chuẩn bị kết thúc thời kỳ tăng trưởng cao. Một công trình nghiên cứu của tôi về tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cho thấy là thời kỳ tăng trưởng cao, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7-10%/năm, sẽ chấm dứt trong khoảng 5 năm tới. Sau đó tốc độ tăng trưởng bình quân của Trung Quốc sẽ chỉ còn khoảng 4-6%/năm.

Khi nền kinh tế còn tăng trưởng cao thì nhiều vấn đề và mâu thuẫn sẽ được xu thế đi lên của nền kinh tế khoả lấp. Nhưng khi nền kinh tế giảm tốc và tăng trưởng chậm thì các vấn nạn sẽ bung ra và gây sự bất ổn.

- Vấn đề tiền tệ, kinh tế suy giảm với chiến dịch chống tham nhũng "đả hổ diệt ruồi" có sự liên quan như thế nào?

- Tôi không nghĩ chiến dịch đả hổ diệt ruồi của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là một nguyên nhân của kinh tế suy giảm và cuộc khủng hoảng tiền tệ. Nó có gây ra xáo trộn chính trị nhưng sự suy giảm kinh tế, như tôi nói ở trên, là một xu thế khách quan. Trong xu thế đó, cuộc khủng hoảng tiền tệ sớm muộn cũng sẽ xảy ra.

Chiến dịch chống tham nhũng cũng có thể có mối liên hệ nhất định với kinh tế suy giảm. Một số người chủ trương chống tham nhũng đã nhìn thấy trước sự suy giảm sắp đến của nền kinh tế, và họ nghĩ rằng chống tham nhũng sẽ làm lành mạnh nền kinh tế, khiến cho cuộc "hạ cánh" trở nên nhẹ nhàng hơn. Nói cách khác, chống tham nhũng sẽ giúp quá trình suy giảm kinh tế tự nhiên của Trung Quốc diễn ra êm ả hơn.

- Những rủi ro tiềm ẩn mà Trung Quốc phải đối diện trong thời gian tới là gì, cả về kinh tế và chính trị?

- Nguy cơ lớn nhất đối với kinh tế và chính trị Trung Quốc trong khoảng một đến hai thập niên tới là một cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ, ngân hàng kéo theo những biến động lớn về chính trị, xã hội.

Sự tăng trưởng ngoạn mục của Trung Quốc trong hơn 30 năm qua một phần lớn là nhờ nằm trên một núi tiền tiết kiệm khổng lồ của dân chúng. So với các nước khác, tính theo tỷ lệ trên GDP thì Trung Quốc tiêu dùng cực kỳ thấp, tiết kiệm cực kỳ cao, và do đó đầu tư cực kỳ nhiều. Doanh nghiệp vay tiền tiết kiệm của dân chúng với giá rẻ, lại được giá nhân công rẻ và nhờ chính sách cưỡng bức chuyển giao công nghệ nên hàng hoá Trung Quốc bán ra rất rẻ. Đó là một vế trong mô hình tăng trưởng của Trung Quốc.

Một vế khác là kỷ luật đầu tư rất lỏng lẻo. Tiền vay được dễ dàng nên đầu tư tràn lan dẫn đến một núi nợ xấu không thể trả được mà phải đảo nợ, giãn nợ, nương vào tăng trưởng kinh tế để thu hẹp lại. Khi kinh tế suy giảm thì khả năng trả nợ sẽ giảm theo. Mấy năm vừa qua gặp lúc kinh tế khó khăn, Trung Quốc ra sức bơm tiền vào để chống đỡ, nên tuy kinh tế không bị suy giảm nhiều nhưng núi nợ xấu càng phình to hơn. Với cách làm này thì chuyện khủng hoảng tài chính, tiền tệ chỉ là vấn đề thời gian.

Hiện Trung Quốc vẫn chống đỡ được những cuộc khủng hoảng này vì người dân vẫn tiết kiệm được nhiều, tốc độ tăng trưởng tuy không còn ở mức 10% như các năm trước nhưng vẫn còn ở mức 7%. Trong 10 năm tới, với tỷ lệ người già trên số dân lao động tăng nhanh, khả năng tiết kiệm của dân chúng sẽ giảm sút nhanh chóng, đồng thời tăng trưởng lúc đó cũng giảm đi rất nhiều, thì núi nợ xấu sẽ đè bẹp hệ thống ngân hàng Trung Quốc.

Không phải lãnh đạo Trung Quốc không biết nguy cơ này, nhưng có rất ít cơ hội để Trung Quốc thay đổi mô hình tăng trưởng vì nếu thay đổi sẽ phải chấp nhận "nhịn" đầu tư trong một thời gian, mà như thế thì lấy đâu tiền cho hệ thống sống. Chiến dịch chống tham nhũng, ngoài động cơ đấu tranh quyền lực giữa các phe nhóm, còn xuất phát từ nhu cầu gia tăng kỷ luật đầu tư. Tuy nhiên có vẻ như tính chính trị đang lấn át tính kinh tế trong đó, cho nên hiệu quả kinh tế của chiến dịch "đả hổ diệt ruồi" chắc sẽ không cao.

- Những bất ổn hiện tại ảnh hưởng thế nào đến chính sách của Trung Quốc ở các khu vực tranh chấp trên biển như Biển Đông và Hoa Đông?

- Có một tư tưởng khá phổ biến cho rằng khi Trung Quốc bất ổn bên trong thì sẽ gây hấn bên ngoài để gây thanh thế bên trong hoặc để lái sự quan tâm ra bên ngoài. Tuy nhiên nhìn vào lịch sử hơn 60 năm qua của Trung Quốc thì không thấy quy luật này nổi lên rõ rệt.

Xét thực lực của Trung Quốc thì thấy dù bất ổn hay không, Trung Quốc cũng là một cường quốc hạng nặng trong khu vực. Và dù bất ổn hay không thì "giấc mộng Trung Hoa" cũng không thay đổi. Mà một thành tố quan trọng của giấc mộng đó là các yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông và biển Hoa Đông và vị thế bá chủ trong khu vực.

Do đó tôi nghĩ bất ổn hiện tại ở Trung Quốc sẽ không làm thay đổi chiến lược lớn của nước này ở các vùng biển Đông Á và Đông Nam Á. Trung Quốc sẽ không gây chiến tranh lớn vì điều đó sẽ gây thiệt hại nặng nề lên chính nền kinh tế Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách bành trướng theo kiểu gặm nhấm, tiếp tục "đánh dưới ngưỡng đau", chừng nào các nước khác vẫn còn sợ làm Trung Quốc tức giận, vẫn còn ngại va chạm với Trung Quốc, hoặc vẫn còn coi tranh chấp trên Biển Đông và Hoa Đông là "chuyện nhỏ" trong "mối quan hệ lớn" với Trung Quốc.

- Ông có thể dự báo xu hướng tình hình của Trung Quốc và Trung Quốc cần làm gì để giải quyết khó khăn hiện nay?

- Nền kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục giảm tốc độ tăng trưởng, trong khoảng 5 năm tới sẽ kết thúc thời kỳ tăng trưởng cao, và trong khoảng 10 năm tới sẽ bước vào một giai đoạn khủng hoảng lớn. Giảm tốc là điều không thể đảo ngược được vì những yếu tố thúc đẩy tăng trưởng cao của Trung Quốc đang ngày càng cạn kiệt. Khủng hoảng cũng là không thể tránh khỏi vì khối nợ xấu đã quá to, trong khi đó các rào cản của cơ chế không dễ gì tháo gỡ.

Điều Trung Quốc có thể làm là giảm nhẹ quy mô và tác động của khủng hoảng. Muốn vậy phải tạo cơ chế kiểm soát đầu tư, nhất là đầu tư công, một cách có hiệu quả, và phải giải phóng sức sáng tạo và sức sản xuất hơn nữa.

Tuy nhiên, Trung Quốc vấp phải vấn nạn là nếu cải cách mạnh thì sẽ gây xáo động và bất ổn. Còn nếu cải cách yếu thì sẽ không có hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc có thể áp dụng chính mô thức "cắt lát xúc xích" mà họ đã sử dụng khá thành công trong quá trình bành trướng ở Biển Đông. Tức là cải cách không ồn ào nhưng kiên trì, mức độ vừa đủ mạnh để có hiệu quả nhưng cũng không quá mạnh để gây bất ổn lớn, đồng thời chấp nhận một số xáo trộn nhỏ nhất định.

Việt Anh

Nguồn: Theo VNEXPRESS

 
NHÌN LẠI BÁO CHÍ THỜI ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA. Nguyễn Quang Duy,Đệ Nhị cộng Hòa,tự do báo chí Nguyễn Quang Duy


Nhà báo Đỗ Hùng bị rút thẻ nhà báo, mất việc, mất chức Phó Tổng thư ký báo Thanh Niên Online chỉ vì viết bài đụng chạm lãnh tụ cho thấy báo chí thời Đệ Nhị Cộng Hòa quá tự do.

Khi ấy các nhà lãnh đạo được đưa lên mặt báo thường xuyên. Tờ Tin Sáng có mục “Tin Vịt” do “Tư trời biển” viết nêu đích danh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là tham quyền cố vị, hiếu chiến, thất học, tham nhũng, bất tài hay gọi ông là "Tổng thống Thẹo", "Sáu Thẹo"…


Hằng trăm tờ báo tư nhân hoàn toàn không bị mua chuộc hoặc bị áp lực theo đường lối của chính phủ. Có báo thân chính phủ, chống cộng, có báo đối lập thậm chí có báo công khai chống đối chính phủ như tờ Tin Sáng nói trên.

Trên 50 tờ nhật báo với số in từ vài chục lên đến trăm ngàn số hằng ngày. Các nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ được tự do sáng tác và phổ biến tác phẩm không bị gò ép trong bất cứ khuôn khổ nào.

Đương nhiên trong hoàn cảnh chiến tranh việc lộ liễu tuyên truyền cho miền Bắc đã bị kiểm soát. Nhưng trên sách báo vẫn thấy rải rác những bài viết ca ngợi quốc tế cộng sản. Việc ngấm ngầm tuyên truyền cho cộng sản Việt Nam cũng không thể tránh khỏi.

Các bài dịch từ báo ngoại quốc với cái nhìn của người ngoại cuộc thậm chí thân cộng cũng thường xuyên xuất hiện trên mặt báo.

Hằng ngàn nhà in, nhà phát hành đều do tư nhân quản lý. Các tiệm sách và sạp báo tư nhân trải rộng khắp miền Nam. Thị trường sách báo hoạt động hoàn toàn tự do.

Ðiều 12 Hiến pháp 1967 ghi rõ: "Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục".

Bảo vệ bởi luật

Các sinh hoạt báo chí được bảo vệ bởi Luật báo chí 019/69, do Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu ban hành vào ngày 30/12/1969.

Đạo luật gồm 8 chương và 69 điều. Chương 1 đã khẳng định quyền tự do báo chí là quyền tự do căn bản trong chính thể Việt Nam Cộng Hòa, miễn bài báo không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc gia và thuần phong mỹ tục.

Nếu không có quyết định của cơ quan tư pháp không ai có quyền đóng cửa tờ báo.

Sách báo, tài liệu nước ngoài bản chính và bản dịch nếu không vi phạm đến an ninh quốc gia và thuần phong mỹ tục cũng được tự do phổ biến tại miền Nam.

Sau 30-4-1975, để tìm hiểu về chủ nghĩa cộng sản giới trí thức miền Bắc đã tìm mua những sách xuất bản trước 1975 hay những sách ngoại quốc viết về chủ nghĩa cộng sản.

Chương 2 của Bộ Luật nhấn mạnh mọi công dân đều được xuất bản báo mà không cần xin phép. Người muốn ra báo chỉ cần làm thủ tục khai báo tại Bộ Thông tin. Bộ có nghĩa vụ phải lập tức cấp chứng nhận tạm thời khi nhận đủ giấy tờ khai báo.

Ngoại kiều cũng có quyền xuất bản báo, chỉ cần Tổng trưởng Bộ Thông tin hội ý với Tổng trưởng Bộ Nội vụ cấp giấy phép.

Chương 3 nếu không có quyết định của cơ quan tư pháp, không ai có quyền tạm đình bản hay đình bản vĩnh viễn bất cứ tờ báo nào.

Trong hoàn cảnh chiến tranh để trách những thông tin vi phạm đến an ninh quốc gia chính phủ đã phải thi hành chính sách kiểm duyệt hạn chế. Tại Sài Gòn, Tổng trưởng Nội vụ có quyền ra lệnh tịch thu một tờ báo trước hay trong khi lưu hành. Tại các tỉnh, Tỉnh trưởng cũng có quyền này.

Báo chí không thể bị khởi tố khi tường thuật hay đăng tải các phiên họp, các thuyết trình, các ý kiến thể hiện quan điểm chính trị. Báo chí có quyền trích dịch mọi nguồn thông tin ngoại quốc.

Báo chí có quyền chỉ trích Chính phủ miễn là không nhằm mục đích tuyên truyền cho cộng sản.

Tự do hoạt động

Hội đồng Báo chí hay Hội Nhà báo là một tổ chức dân sự đại diện cho báo chí. Hội Đồng hoàn toàn vì quyền lợi của nhân viên tòa soạn. Mỗi báo có ít nhất 2 đại diện một là Chủ nhiệm và một ký giả đại diện của tờ báo.

Theo Đạo Luật 019/69 nhà báo là người nhận thù lao và cộng tác thường xuyên với tờ báo. Nhà báo phải có thẻ hành nghề do tờ báo cấp và đăng ký ở Bộ Thông tin.

Phóng viên ngoại quốc cũng được tự do hoạt động, nhiều người được móc nối đưa vào vùng cộng sản chiếm để làm phóng sự tuyên truyền cho cộng sản.

Trong hoàn cảnh chiến tranh cộng sản đã lợi dụng tự do báo chí để hoạt động. Nhiều ký giả, phóng viên, nhân viên tòa báo là cán bộ cộng sản nằm vùng hay làm việc cho cộng sản.

Nhật báo Tin Sáng của dân biểu đối lập Ngô Công Đức gồm nhiều người thuộc thành phần thứ ba như Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quí Chung. Sau 30-4-1975, Tin Sáng được tiếp tục phát hành thêm 6 năm, được đóng cửa với lý do tờ báo đã "hoàn thành nhiệm vụ".

Tình trạng báo đối lập tại miền Nam đã được tờ Lao Động, số ra ngày 13/07/2015, tóm gọn như sau:

“Báo đối lập bị tịch thu dài dài, chủ bút ra tòa như cơm bữa, nhưng chỉ bị “phạt miệng”, chứ không đóng một xu nào. Tịch thu thì cứ tịch thu, báo vẫn đến tay độc giả đều đều. Lí do hết sức đơn giản, báo chưa đưa đi kiểm duyệt đã phát hành rồi nên khi cảnh sát ập đến tòa soạn để lập biên bản tịch thu thì có một số tờ đã "cao chạy xa bay"…”

Tong hoàn cảnh chiến tranh và trước tình trạng nói trên ngày 4-8-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Đạo Luật số 007/72.

Luật mới quy định mỗi nhật báo phải ký quỹ tại Tổng nha ngân khố 20 triệu đồng (bằng 500 lượng vàng) và 10 triệu đồng cho báo định kỳ. Ngay khi ban hành đã có 16 tờ nhật báo và 15 tờ báo định kỳ không có tiền ký quỹ phải đóng cửa.

Luật mới cũng quy định tờ nào hai lần vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng thì sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn.

Việt Nam Cộng Hòa là một nước theo thể chế tam quyền phân lập rõ ràng: Tư pháp độc lập với Hành pháp. Cơ quan hành Pháp truy tố một tờ báo nhưng quyết định tờ báo có vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng, vi phạm ở mức độ nào là quyết định hoàn toàn của Tòa Án.

Luật mới ra đời báo chí vẫn hoạt động khá tự do. Như tháng 8 năm 1974 báo chí vẫn tiếp tục cổ vũ cho Phong trào nhân dân chống tham nhũng của Linh mục Trần Hữu Thanh, hay cổ động cho Ngày ký giả đi ăn mày, 10-10-1974.

Điểm son nền Cộng hòa

40 năm nhìn lại sinh hoạt báo chí cũng như mọi sinh hoạt khác tại miền Nam vừa tự do, vừa văn minh hơn hẳn các quốc gia trong vùng và không thua gì các quốc gia tân tiến. Đây là điểm son của nền Đệ Nhị Cộng Hòa làm nhiều người cảm thấy luyến tiếc một thời đã qua.

Một số người cho rằng chính báo chí dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam tự do. Thực ra định mệnh của nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã được thu xếp tại Tòa Bạch Ốc, từ Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Hiệp Định Ba Lê.

Một số bạn ở Việt Nam cho biết báo chí thời nay ít người đọc. Ngược lại ở hải ngoại báo chí vẫn thịnh hành. Điều này chứng tỏ nhu cầu đọc báo ở Việt Nam đã không được đáp ứng.

Trở lại với nhà báo Đỗ Hùng, bài viết của ông đã được lấy xuống không một lời giải thích, không còn thấy Facebook của ông và không ai biết việc gì đang xảy ra cho ông. Điều này chứng minh ở Việt Nam hoàn toàn không có quyền tự do ngôn luận.

Ở Việt Nam chỉ có 1 cơ quan tuyên giáo nên rất có thể không báo nào dám nhận ông làm việc. Từ góc cạnh nhân quyền ông mất cả quyền mưu cầu cuộc sống cá nhân và gia đình.

Việt Nam đang cố gắng để được tham gia Hiệp Ước Thương Mãi Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có điều khoản về tự do báo chí, việc nhà cầm quyền cộng sản sa thải nhà báo Đỗ Hùng cho thấy họ chưa sẵn sàng tuân thủ các điều khoản sẽ ký.

Ngược lại bài học từ tự do báo chí trong nền Đệ Nhị cộng Hòa cho thấy nước Việt Nam và người Việt Nam thích nghi hơn với một thể chế tự do như đã có tại miền Nam trước 30-4-1975.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

11-9-2015

Quảng Cáo

No comments:

Post a Comment