13/02/2019

Kỷ niệm 70 năm ban hành: Nhận xét tổng quát Hiến Pháp CHLB Đức


Con đường dân chủ hoá   


Nước Đức có cả một đoạn đường dài tiến tới dân chủ. So với các quốc gia láng giềng, Đức đã thay đổi chính thể nhiều lần. Sau thế chiến thứ nhất (1914-1918), chính thể quân chủ lập hiến được thay thế bằng chính thể cộng hòa Weimar (1919-1933) mở đầu cho tiến trình dân chủ hóa nước Đức. Cộng hòa Weimar tồn tại được 14 năm bị độc tài quốc xã của Hitler  (Nationalsozialismus), một biến thể của độc tài Phát xít tiếm quyền vào năm 1933. Quốc xã đưa Đức vào thế chiến thứ hai (1939-1945) và sau khi bị bại trận chế độ độc tài quốc xã (1933-1945) sụp đổ. 


Từ năm 1945, Đức bị Tứ cường chiến thắng (Anh, Pháp Mỹ và Liên xô )  chiếm đóng và chia Đức thành 4 vùng. Ba vùng miền Nam, Bắc và Tây do Anh, Mỹ và Pháp quản lý. Vùng Đông do Liên xô cai trị.  Năm 1948 ba đồng minh phương Tây muốn Đức có một bản Hiến pháp để tổ chức lại cơ cấu nhà nước. Vào ngày 1.9.1948 tại Bonn, Hội đồng nghị viện ( parlamentarischer Rat) thay vì Hội đồng lập hiến (verfassungsgebende Versammlung) được triệu tập và thông qua một văn kiện pháp lý không gọi là Hiến Pháp (Verfassung) mà là "Luật cơ bản" (Grundgesetz - GG). 65 đại biểu của các Nghị viện tiểu bang tham dự Hội nghị này. Ngày 23.05.1949 Konrad Adenauer với tư cách chủ tịch Hội đồng Nghị viện công bố ban hành Luật căn bản. Ngày này cũng được nhìn nhận là ngày thành lập Cộng hòa Liên bang Đức (BRD) với thủ đô Bonn. Dựa trên văn kiện pháp lý, các cuộc bầu cử đầu tiên được xúc tiến. Bầu Nghị hội liên bang (Bundestag) gọi là Quốc hội hay Hạ Nghị Viện diễn ra vào ngày 14.08.1949. Kế tiếp 7. 9.1949  lập Hội đồng Liên bang  (Bundesrat) hay Thượng Viện. Ngày 12.09.1949 bầu Nhà Báo Theodor Heuss, chủ tịch đảng Dân chủ Tự do FDP  làm Tổng thống liên bang (Bundespräsident) và vào ngày 15.09.1949 bầu cựu thị trưởng thành phố Köln ( Cologne) Konrad Adenauer, chủ tịch Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo CDỤ vào chức vụ Thủ tướng.

Tại Đông Đức  vào ngày 7.10.1949 Ủy ban quân quản Liên xô dựng lên một chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa với danh xưng Cộng hòa dân chủ Đức (DDR) do đảng thống nhất xã hội chủ nghiã Đức ( SED) cầm quyền. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ (9.11.1989) chế độ cộng sản Đông Đức cáo chung và nước Đức thống nhất vào ngày 3.10.1990. Nước Đức nhận lại chủ quyền toàn vẹn, kết thúc 45 năm bị Tứ cường chiếm đóng và nhân dân hai miền Đông-Tây cùng nhau chung sức phát triển một quốc gia dân chủ hiến trị.

Quá trình lập hiến

Sau cách mạng tháng 2 năm 1848 của Pháp, ở Đức cũng như nhiều nước Châu Âu khác, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh chống phong kiến đã diễn ra mạnh mẽ. Hiến pháp nhà thờ thánh Phao lô (Paulskirchenverfassung)  hay còn được gọi là Hiến pháp Frankfurt  của Phổ được thông qua bởi một Quốc hội lập hiến vào ngày 28.03.1849. Hiến pháp Frankfurt là bản hiến pháp dân chủ  của toàn nước Đức, dự kiến một hệ thống chính trị theo chính thể  quân chủ lập hiến, ghi nhận, bảo vệ quyền con người và chống lại sự lạm quyền của nhà nước. Các quyền cơ bản của công dân có thể kháng cáo trước toà án. Năm 1871 dưới thời Thủ tướng Bismark, Hiến pháp vương quốc Bismark (Bismarcksche Reichsverfassung) được ban hành. Hiến pháp này chỉ đề cập đến vấn đề tổ chức nhà nước và hoàn toàn không nêu ra những quyền cơ bản của công dân.

Thế chiến thứ nhất (1914-1918) chấm dứt, Đức bại trận chấp nhận Hoà ước Versailles. Một bản Hiến pháp mới được soạn thảo, thông qua ở thành phố Weimar, gọi là Hiến pháp cộng hoà Weimar (Weimarer Verfassung) có hiệu lực từ ngày 14/8/1919. Với Hiến pháp Weimar, Đức lần đầu tiên trở thành một quốc gia cộng hoà dân chủ đại nghị. Chính thể Weimar là chính thể  hỗn hợp mang đặc tính của Tổng thống chế và Đại nghị chế. Về mặt tổ chức quốc gia, Hiến pháp Weimar phân định cấu trúc liên bang và các   tiểu bang cũng như xác định tính chất pháp lý, nhiệm vụ của các thiết chế hiến định (Verfassungsorgane) Hạ viện,Thượng viện,Tòa án,Tổng thống và Chính phủ. Trong Hiến pháp này, các quyền căn bản được quy định rõ ràng như quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng,  quyền tự do kinh doanh, bất khả xâm phạm nơi cư ngụ, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do biểu tình, quyền tự do bầu cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền sở hữu, quyền thừa kế.

Luật Cơ Bản của Liên bang cộng hoà Đức (Grundgesetz für die Bundesrepublik) được phê chuẩn  tại Bonn và có hiệu lực từ ngày 23.05.1949. Từ Luật cơ bản được dùng thay vì hiến pháp để chỉ tính tạm thời chỉ có giá trị cho Tây Đức, và một hiến pháp mới sẽ thay thế khi nước Đức  thống nhất.

Dựa trên những nội dung tiến bộ cùa  Hiến pháp cộng hòa Weimar và Hiến pháp Frankfurt cũng như tiếp thu những kinh nghiêm trong quá trình lập hiến, Luật cơ bản được soạn thảo có hệ thống mẫu mực phù hợp điều kiện của đất nước.

Nội dung Luật cơ bản hay Hiến pháp CHLB Đức

Luật cơ bản có 146 Điều, chia thành 11 Chương như sau:

Lời nói đầu

1.    Các quyền cơ bản từ Điều 1 đến 19

2.    Liên bang và Tiểu bang từ Điều 20 đến 37

3.    Quốc hội – Hạ Viện từ Điều 38 đến 49

4.    Thượng Viện từ Điều 50 đến 53

4a.   Ủy ban hỗn hợp từ Điều 53a

5.     Tổng thống từ Điều 54 đến 61

6.     Chính quyền liên bang từ Điều 62 đến 69

7.     Hành pháp liên bang từ Điều 70 đến 82

8.     Thi hành luật và hành chính liên bang từ Điều 83 đến 91

8a.   Nghiã vụ chung và hợp tác hành chính từ Điều 91a đến 91e

9.     Tư pháp từ Điều 92 đến 104

10.   Tài chính từ Điều 104a đến 115

10a. Quốc phòng từ Điều 115a đến 115l

11.   Quy định chuyền tiếp và cuối cùng từ Điều 116 đến 146
Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ và nước Đức thống nhất 3.10.1990, Luật cơ bản trở thành Hiến pháp của toàn nước Đức với thủ đô Bá Linh (Berlin).

Ý nghĩa Hiến Pháp

1. Hiến pháp là khởi nguồn của hệ thống chính danh

Hiến pháp thường được hiểu là một trật tự pháp lý cơ bản giới hạn quyền lực, ràng buộc trách nhiệm nhà nước và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Đó là tổng thể tất cả các qui phạm qui định trật tự pháp lý cơ bản của nhà nước, đặc biệt là các vấn đề hình thức nhà nước, cơ chế xác lập các cơ quan nhà nước tối cao và bảo vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên Hiến pháp Đức không đơn thuần chỉ là bản điều lệ tổ chức quốc gia,ngoài các điều khoản quy định chính thể cộng hoà, dân chủ, cấu trúc liên bang, các cơ quan liên bang, thẩm quyền tư pháp, hành chính, bầư cử, bổ nhiệm...Hiến pháp còn làm rõ nguồn gốc chính danh cho sự cai trị cũng như thực hiện ý tưởng Nhân quyền, dân quyền.

Lời nói đầu (Präambel) “Ý thức  trách nhiệm trước Thiên chúa và  loài người, với mong muốn phục vụ hòa bình thế giới trên tư cách là một thành viên bình đẳng trong một  Châu Âu liên hợp, thông qua cơ quan lập hiến của mình, nhân dân Đức đã tự  ban hành Luật căn bản này” đã thể hiện tinh thần tự chủ, tự ý thức, tự  trách nhiệm và quyết định ý muốn của một dân tộc tự do không phải xin phép người nào dù đất nước đang bị chiếm đóng. Luật pháp tân tiến của Phương Tây được hiểu là những kết quả thể hiện ý muốn tự do của công dân.

Tuyên xưng "ý thức trách nhiệm trước Thiên chúa" trong Lời nói đầu không có ý nghĩa đề cao Thiên chúa giáo và phân biệt các tôn giáo hay tín ngưỡng khác, mà các nhà kiến tạo Hiến pháp muốn nhấn mạnh bản sắc văn hoá mà đất nước Đức xây dựng và phát triển dựa trên Thiên chúa giáo. Nhà nước  không thể thờ ơ một khi  gốc rễ tôn giáo và tinh thần của dân tộc bị suy yếu và hiểm nguy.      

2. Hiến định các quyền cơ bản

Điều đầu tiên, trang trọng nhất  của Luật Cơ bản của Đức là quy định về nhân phẩm:

Điều 1 [Nhân phẩm – nhân quyền – giá trị pháp lý của các quyền cơ bản]

 "Phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan nhà nước. Nhân dân Đức do đó thừa nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là cơ sở của mọi cộng đồng, của hòa bình và công lý trên thế giới. Các quyền cơ bản sau  đây sẽ ràng buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp như luật có thể áp dụng trực tiếp"Các quyền cơ bản từ điều 2 tới 19 cũng là những quyền công dân  và quyền cơ bản tư pháp  được thể hiện có hệ thống, mẫu mực, đầy đủ và rõ ràng. Các điều này đảm bảo con người hành sử  tự do để thăng tiến. Điều 2 [Tự do cá nhân]  Điều 3 [Bình đẳng trước pháp luật] Điều 4 [Tự do tín ngưỡng và lương tâm] Điều 5 [Tự do ngôn luận] Điều 6 [Hôn nhân - gia đình - trẻ em] Điều 7 [Hệ thống giáo dục] Điều 8 [Tự do hội họp] Điều 9 [Tự do lập hội] Điều 10 [Bảo mật thư tín, bưu chính và viễn thông] Điều 11 [Tự do đi lại] Điều 12 [Tự do nghề nghiệp] Điều 13 [Bất khả xâm phạm nhà riêng] Điều 14 [Tài sản - thừa kế - tước quyền sở hữu] Điều 15 [Xã hội hóa] Điều 16 [Quốc tịch - dẫn độ] Điều 16a [Quyền tị nạn] Điều 17 [Quyền khởi kiện] Điều 17a [Hạn chế quyền cơ bản trong các trường hợp cụ thể] Điều 18 [Tước quyền cơ bản] Điều 19 [Hạn chế các quyền cơ bản – các cơ chế pháp lý] 

“Nhân phẩm là bất khả xâm phạm” phản ánh đầy đủ tính nhân bản, tính dân tộc và tính thời đại của Hiến pháp Đức. Những hành vi của công quyền như bắt người làm nô lệ, tra tấn, phân biệt đối xử, làm nhục, từ chối cung cấp những điều kiện sống tối thiểu của một con người đều là những hành vi xâm phạm nhân phẩm và vi hiến. Tất cả mọi người đều được bảo vệ nhân phẩm, không phân biệt người đó là ai, trẻ em hay người trưởng thành, người bị tâm thần hay tội phạm, Không chỉ việc tử hình bị coi là vi phạm nhân phẩm con người, mà ngay cả hình phạt tù chung thân (die lebenslange Freiheitsstrafe) không chú ý đến khả năng hoàn lương của con người cũng bị coi là vi phạm nhân phẩm.

3. Xây dựng một chế độ đại nghị, dân chủ, pháp trị và đa đảng

 Điều 20 [Những nguyên tắc hiến định - bảo vệ trật tự hiến pháp] 

"Cộng hòa Liên bang  Đức là một nhà nước liên bang dân chủ và xã hội. Mọi quyền lực của các cơ quan nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Quyền lực  đó  được thực hiện bởi nhân dân thông qua bầu cử, việc bỏ phiếu và thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cụ thể. Cơ quan lập pháp sẽ bị ràng buộc vào hệ thống hợp hiến, hành pháp và tư pháp vào luật pháp.“

Sự tổ chức ở Liên bang và các tiểu bang được thực hiện theo những nguyên tắc  quy định trong điều 20 của Luật cơ bản: Cộng hoà, Dân chủ, Pháp trị  xã hội và liên bang, Các nguyên tắc này sẽ chỉ định thiết lập các cơ quan hiến định, với  thẩm quyền,phân quyền,kiểm soát và cân bầng nhau.

Nguyên tắc dân chủ đòi hỏi mọi quyền lực xuất phát từ ý dân thể hiện qua bầu cử hay biểu quyết.

Lập Pháp

Chính thể nước hiện nay là chính thể cộng hòa đại nghị điển hình trên thế giới. Nghị viện gồm Quốc hội liên bang, gọi là Hạ Viện liên bang ( Bundestag) và Hội đồng liên bang,gọi là Thượng viện liên bang (Bundesrat)

Hạ Viện

Điều 38 [Bầu cử] "Thành viên của Hạ viện  Đức  được bầu từ các cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình  đẳng và bỏ phiếu kín. Họ  đại diện cho toàn dân, không bị ràng buộc bởi các chỉ đạo hoặc hướng dẫn và chỉ chịu trách nhiệm trước lương tâm mình.  Mọi người đã đến tuổi 18 sẽ được quyền bỏ phiếu, người nào đã đạt tuổi trưởng thành đều được bầu.“

Điều 39 [Nhiệm kỳ - Triệu tập] "Hạ viện  được bầu theo nhiệm kỳ 4 năm. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Hạ viện mới  được triệu tập“.

Thượng Viện

Điều 50 [Các chức năng] "Các Bang sẽ tham gia, thông qua Thượng viện, vào hoạt  động lập pháp, hành chính của Liên bang và các vấn đề liên quan đến Liên minh Châu Âu.“

Điều 51 [Thành phần] "Thượng viện sẽ bao gồm các thành viên của chính quyền các Bang, các Bang bổ nhiệm và triệu hồi các thành viên đó. Các thành viên khác của các chính quyền đó có thể hoạt động thay thế. Mỗi Bang sẽ có tối thiểu 3 phiếu bầu; các Bang có hơn 2 triệu dân sẽ có 4 phiếu, các Bang có hơn 6 triệu dân sẽ có 5 phiếu, và các Bang hơn 7 triệu dân sẽ có 6 phiếu.“

Về hành pháp, Hiến pháp có hai thiết chế

Tổng thống liên bang

Điều 54 [Bầu cử Tổng Thống Liên Bang]  "Tổng thống Liên bang sẽ  được bầu bởi Hội nghị Liên bang (Bundesversammlung)  mà không qua tranh luận. Bất kỳ công dân  Đức đủ  điều kiện bầu cử Hạ viện và đủ 40 tuổi có thể ứng cử.

Nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang là 5 năm. Việc tái cử  nhiệm kỳ  chỉ được phép một lần.

Hội nghị Liên bang sẽ bao gồm các thành viên của Hạ viện và một số tương đương thành viên được bầu bởi nghị viện các Bang trên cơ sở đại diện tỷ lệ.“

Thủ tướng liên bang  (Kanzler)

Điều 63 [Bầu cử Thù Tướng Liên Bang] "Thủ tướng liên bang được Hạ Viện bầu không cần thảo luận, theo lời yêu cầu của Tổng Thống liên bang „

Điều 67  [Phiếu bất tín nhiệm ] "Phiếu bất tín nhiệm Hạ Viện có thể tuyên bố bất tín nhiệm  Thủ Tướng liên bang bằng cách bầu người kế nhiệm với đa số phiếu thành viên Hạ Viện và thỉnh cầu Tổng Thống sa thải Thủ Tướng“.

Theo Hiến Pháp,Tổng thống liên bang không có nhiều quyền hành.Tổng thống liên bang là một thiết chế đại diện, không được nhân dân bầu trực tiếp mà được bầu thông qua Hội nghị liên bang (Bundesversammlung.)

Thủ tướng thực tế là người lãnh đạo chính trị đất nước. Nhưng Thủ tướng không thể cai trị một mình nên phải tìm cách dung hoà hay hợp tác với các chính đảng khác để có đa số trong Quốc hội.

Một nền dân chủ hoạt động hữu hiệu  không thể thiếu các chính đảng. Vai trò chính đảng được hiến định rõ trong  Điều 21 [Đảng phái chính trị] "Các đảng chính trị tham gia vào sự hình thành của ý chí chính trị của nhân dân. Chúng được tự do thành lập. Tổ chức nội bộ của các đảng phải phù hợp với nguyên tắc dân chủ. Các  đảng chính trị phải chịu trách nhiệm công khai về tài sản, các nguồn lực và việc sử dụng các quỹ của mình „. 

Tư Pháp

Quyền lực Tư pháp được trao cho các Thẩm phán.Quyền lực đó được thực thi bởi Toà án Hiến pháp liên bang ( Bundesverfassungsgericht), các toà án liên bang và toà án tiểu bang.

Toà án Hiến pháp liên bang

Tòa án Hiến pháp liên bang là một thiết chế  bảo vệ Hiến pháp và bảo vệ nền dân chủ (wehrhafte Demokratie) ở Đức. Tầm quan trọng đặc biệt của Tòa án Hiến pháp Liên bang được thể hiện trong điều 31 Luật  Tòa án Hiến pháp Liên bang:“ Các phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang là bắt buộc đối với các cơ quan hiến pháp của liên bang và tiểu bang cũng như đối với tất cả các tòa án và cơ quan nhà nước“.

Tòa án hiến pháp liên bang có  hai chức năng :

Chức năng thứ nhất, Tòa án hiến pháp liên bang là một cơ quan có chức năng xét xử như các Tòa án khác (Theo các Điều 92, 93, 94, 97 Luật cơ bản ). Điều 92  qui định: “Quyền xét xử được trao cho thẩm phán”. Điều này có nghĩa rằng ở Đức, thẩm phán luôn nhận được sự tin tưởng tuyệt đối và cũng nhận lấy trách nhiệm to lớn trước nhà nước và xã hội. Qui định này được bổ sung bởi Điều 97  “Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo luật”.
Chức năng thứ hai, theo Điều 1 Khoản 1 Luật toà án Hiến pháp liên bang, Tòa án hiến pháp liên bang là một thiết chế hiến định (Verfassungsorgan) giống như các thiết chế khác ở liên bang như Hạ  viện, Thượng  viện, Tổng thống liên bang  và Chính phủ liên bang.
Hai chức năng này tạo nên vị trí độc lập của Tòa án hiến pháp liên bang trong hoạt động xét xử. 

Quốc gia cởi mở

Hiến pháp Đức dự kiến định hướng nhà nước cởi mở cho phép Liên bang chuyển giao thẩm quyền cho các tổ chức xuyên quốc gia hay quốc tế như Liên minh Âu châu EU và Minh ước bắc đại tây dương NATO hay Toà án quốc tế.

Nhờ vậy Cộng hoà liên bang Đức đã nhanh chóng hội nhập trở lại Cộng đồng các quốc gia dân chủ và văn minh. Nay Cộng hòa liên bang Đức là một quốc gia có ảnh hưởng rất lớn ở châu Âu, là đối tác hấp dẫn trên phạm vi toàn cầu.

Nước Đức là một thành viên sáng lập Liên minh châu Âu (EU) và là nước đông dân nhất trong khối. Cùng với 17 thành viên EU khác, Đức xây dựng Khu vực đồng Euro, một liên minh tiền tệ. Đức còn là thành viên của UNO (Liên hiệp quốc), của OECD (Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển), của NATO (Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương), của tổ chức G7 (Bảy nước kinh tế hàng đầu thế giới gồm Mỹ, Canada, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ý) và tổ chức G20 (Hai mươi nước công nghiệp phát triển của thế giới).

Thay lời kết

-Các quyền cơ bản trong Hiến pháp bao gổm nhân quyền và dân quyền là những quyền có thực chất và sức mạnh thi hành.

-Các định hướng cơ bản cùa Hiến pháp đã góp phần kiến tạo một quốc gia thực sự dân chủ, pháp trị và xã hội

-Toà án Hiến Pháp có uy quyền đảm bảo sự thực thi luật pháp và tính độc lập của toà án

Luật cơ bản của CHLB Đức đến nay đã trải qua lịch sử  70 năm (1949 - 2019) đã góp phần xây dựng Đức từ hoang tàn đổ nát sau chiến tranh và thảm họa độc tài  trở thảnh một quôc gia hiến trị dân chủ ổn định và tân tiến nên Luật cơ bản được nhân dân Đức chấp nhận là bản Hiến pháp tốt nhất từ trước đến nay dù không thông qua trưng cầu dân ý.Hơn nưã Luật cơ bản  hiện nay được nhìn nhận là một trong những bản Hiến Pháp có nhiều giá trị  trên thế giới, xứng đáng  là mẫu hình rất đáng tham khảo đối với nhiều quốc gia muốn hướng đến dân chủ, pháp trị và hiến trị.
Vũ Ngọc Yên

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire