18/07/2018

Nghịch lý FDI

TS. Vũ Thành Tự Anh (*)


(TBKTSG) - Năm nay Việt Nam kỷ niệm 30 năm Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực. Đến thời điểm này, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước. Đóng góp của FDI ở Việt Nam là hết sức ấn tượng, tuy nhiên tấm huy chương nào cũng có hai mặt: sự thành công vượt bậc của FDI đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức to lớn cho nền kinh tế, trong đó quan trọng nhất là làm thế nào để tận dụng sự hiện diện của FDI để nâng cấp công nghiệp, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào FDI trong dài hạn.


Chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam phải tìm cách vừa tận dụng được cơ hội do FDI đem lại để nâng cấp công nghiệp và hội nhập vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Ảnh: KỲ ANH


Hai nghịch lý về “sản phẩm công nghệ cao” ở Việt Nam

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của FDI ở Việt Nam nằm ở hàm lượng công nghệ cao. Theo số liệu thống kê, sản phẩm công nghệ cao - chủ yếu đến từ khu vực FDI - đã chiếm tới gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ con số thoạt nhìn rất đáng khích lệ này, chúng ta sẽ thấy hai nghịch lý không mấy dễ chịu.

Nghịch lý thứ nhất là tuy công nghệ cao nhưng kỹ năng lại thấp. Gần 10 năm trước, tôi có dịp đến thăm nhà máy ở một khu công nghiệp của TPHCM chuyên sản xuất máy móc và thiết bị y tế để xuất khẩu 100% sang Nhật Bản. Thiết bị y tế này khá tinh vi, hơn nữa lại xuất khẩu sang Nhật là một thị trường khó tính bậc nhất nên chắc chắn được phân vào nhóm hàng “xuất khẩu công nghệ cao”. Thế nhưng thực tế là đa số công nhân ở đây chỉ cần học hết lớp 5, được đào tạo chưa tới một tuần, và công việc cũng chỉ đơn giản là nhặt một bộ phận từ dây chuyền để lắp vào một cấu kiện, sau đó dây chuyền tự động chuyển sang công đoạn tiếp theo.
Một nền công nghiệp (và xuất khẩu) nếu chỉ phụ thuộc vào FDI 10 năm là nền công nghiệp thành công, phụ thuộc 20 năm vẫn có thể chấp nhận được, nhưng nếu sau 30 năm mà vẫn phụ thuộc ngày một nặng nề hơn thì có thể coi là thất bại.
Gần đây hơn, tôi cũng có cơ hội đến thăm một số nhà máy lắp ráp điện thoại và điện tử hàng đầu ở Việt Nam. Nghịch lý công nghệ cao và kỹ năng thấp cũng hoàn toàn giống như trường hợp nhà máy thiết bị y tế xuất khẩu sang Nhật ở trên. Khác chăng chỉ ở chỗ dây chuyền công nghệ hiện đại hơn và công nhân một số người được ngồi để lắp ráp thay vì phải đứng.

Nghịch lý thứ hai là tuy công nghệ cao nhưng giá trị gia tăng lại thấp. Xuất khẩu của Việt Nam có một đặc trưng quan trọng, đó là để xuất khẩu thì phải nhập khẩu rất nhiều.
Một ví dụ điển hình là trường hợp của tập đoàn Samsung. Trong dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Samsung Electronics Việt Nam, Samsung tuyên bố tỷ lệ nội địa hóa ở Việt Nam của tập đoàn này lên tới 57%. Tuy nhiên, theo cách tính của Samsung, tỷ lệ 57% này bao gồm cả các nhà cung ứng nước ngoài (trong đó chủ yếu là Hàn Quốc) đang hoạt động ở Việt Nam. Nếu trừ tỷ trọng xuất khẩu của các nhà cung ứng này thì chắc chắn tỷ lệ nội địa hóa của Samsung ở Việt Nam thấp hơn con số 57% rất nhiều.
Điều này cũng có thể thấy rõ qua số liệu tổng hợp xuất nhập khẩu điện thoại và linh kiện ở Việt Nam (xem đồ thị). Khu vực FDI chiếm trọn vẹn 100% giá trị xuất khẩu và 89% giá trị nhập khẩu điện thoại và linh kiện ở Việt Nam. Nhìn vào tỷ lệ 89% nhập khẩu này, thật khó hình dung làm cách nào Samsung có được tỷ lệ nội địa hóa lên tới 57%.
“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” - nói một cách công bằng, tỷ lệ nội địa hóa thấp phần lớn là do các doanh nghiệp nội địa Việt Nam - cả nhà nước và tư nhân - chưa đủ năng lực cung ứng và hội nhập vào mạng lưới sản xuất toàn cầu của các tâp đoàn đa quốc gia (MNCs). Nghịch lý công nghệ cao - giá trị gia tăng thấp đặt ra một thách thức to lớn về chính sách phát triển doanh nghiệp và năng lực công nghiệp nội địa của quốc gia.

Sự phụ thuộc vào FDI và bẫy gia công giá trị thấp

Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc một cách nặng nề vào khu vực FDI (xem thêm bài của TS. Vũ Quang Việt ở trang 18 trong số này). Sự phụ thuộc này thể hiện rõ nét trong “tam giác mạng lưới sản xuất” (triangular production networks). Cụ thể là hoạt động sản xuất chủ yếu được tổ chức và điều phối bởi các MNCs đến từ các nước phát triển, sau đó cũng lại được xuất khẩu phần lớn sang các nước phát triển. Còn các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung ở khâu gia công và lắp ráp, là khâu dễ nhất và nằm ở dưới đáy “đường cong nụ cười”.
Nếu như mối quan hệ tam giác này đủ mạnh thì nó sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp trong nước trở thành các nhà “gia công chuyên nghiệp” cho các công ty FDI cũng như cho các công ty thương mại nước ngoài. Hệ quả là giá trị gia tăng tạo ra rất thấp, không những thế lại có rất ít khả năng cải tiến công nghệ, nâng cấp sản phẩm, chủ động tham gia chuỗi cung ứng, hay được hưởng hiệu ứng lan tỏa từ khu vực FDI.
Kết quả là sau một thời gian dài chỉ làm gia công, các doanh nghiệp này không còn có năng lực để theo đuổi bất kỳ một lựa chọn nào khác - tức là đã bị rơi vào “bẫy gia công” giá trị thấp. Làm thế nào để thoát ra khỏi “bẫy gia công” này là một thách thức quan trọng nữa của chính sách phát triển doanh nghiệp và công nghiệp quốc gia.

***
Nhìn về phía trước, chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam phải tìm cách vừa tận dụng được cơ hội do FDI đem lại để nâng cấp công nghiệp và hội nhập vào mạng lưới sản xuất toàn cầu, vừa từng bước giảm dần sự phụ thuộc nặng nề vào FDI như hiện nay.
Một nền công nghiệp (và xuất khẩu) nếu chỉ phụ thuộc vào FDI 10 năm là nền công nghiệp thành công, phụ thuộc 20 năm vẫn có thể chấp nhận được, nhưng nếu sau 30 năm mà vẫn phụ thuộc ngày một nặng nề hơn thì có thể coi là thất bại.
Sự phụ thuộc này một mặt làm xói mòn động lực cải cách thể chế, phát triển tư nhân trong nước và nâng cấp công nghiệp nội địa. Mặt khác, nó còn đặt nền kinh tế trước những rủi ro to lớn: chiến tranh thương mại hay khủng hoảng kinh tế có thể làm đảo chiều dòng vốn và thu hẹp thị trường xuất khẩu; phát triển công nghệ (tự động hóa và robot hóa) làm giảm sự phụ thuộc vào lao động con người và do đó khiến các ngành thâm dụng lao động bị tổn thương; và những biến đổi nhân khẩu học và tiền lương làm thị trường lao động của Việt Nam trở nên ngày càng kém hấp dẫn trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài.
Quỹ thời gian còn lại để thay đổi một cách căn bản chính sách phát triển doanh nghiệp và công nghiệp quốc gia không còn nhiều. Nếu 10 năm nữa mà tốc độ thay đổi vẫn chậm chạp như hiện nay thì tụt hậu và bẫy thu nhập trung bình sẽ không còn là nguy cơ mà trở thành hiện thực.

(*) Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright Việt Nam

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire