Wednesday, October 31, 2018

Trí thức kiểu Nguyễn Phú Trọng và trí thức kiểu Chu Hảo


Nhân Trần
29-10-2018

Thông tin Giáo sư Chu Hảo bị kỷ luật đang gây xôn xao trong cộng đồng trí thức Việt Nam. Tại sao GS. Chu Hảo bị kỷ luật? Việc kỷ luật này nói lên thực trạng gì về nhận thức, tri thức và lý luận của nhà cầm quyền? Kéo theo đó là một cuộc tranh luận về thế nào là trí thức? Trí thức kiểu Nguyễn Phú Trọng hay trí thức kiểu Chu Hảo?
Ngày 23/10/2018, Nguyễn Phú Trọng – đương kim Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam lên nắm quyền Chủ tịch nước thay thế Trần Đại Quang vừa mới qua đời (Lưu ý: cả hai vị Chủ tịch nước này đều mang học hàm, học vị Giáo sư-Tiến sĩ). Chỉ hai hôm sau khi lên ngôi, thông tin về việc kỷ luật GS. Chu Hảo – nguyên thứ trưởng bộ Khoa học công nghệ, giám đốc nhà xuất bản Tri Thức được Ban kiểm tra trung ương đưa ra, làm chấn động cộng đồng mạng Việt Nam.

Trước hết, tôi muốn nói đến việc tại sao GS. Chu Hảo bị đề nghị kỷ luật?
Đọc miết các trang báo được coi là chính thống tại Việt Nam, tôi chỉ thấy có báo Dân Trí (ngày 25/10) trích đoạn nguyên văn câu của Ủy ban kiểm tra TƯ “kết tội” giáo sư Chu Hảo: “Ông Chu Hảo đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vi phạm, khuyết điểm của ông Chu Hảo là rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, tác động xấu tới tư tưởng xã hội, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật”.
Như vậy, GS. Chu Hảo có thể bị kỷ luật vì những nguyên nhân sau: 1) Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; 2) “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và hệ quả là: 1) Làm ảnh hưởng đến tổ chức đảng và; 2) tác động xấu tới tư tưởng xã hội.
Thế nào là “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”? Trên trang mạng của UBKTTW có dẫn “Từ việc chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm thần tốc, cả nhà làm quan; bao che, dung túng cho sai phạm, khuyết điểm, dẫn đến hệ lụy lợi ích nhóm, tham ô, tham nhũng, cán bộ lạm quyền, trình độ năng lực kém, vi phạm các quy định, quy chế làm việc; thậm chí là vi phạm pháp luật. Nhiều vụ việc diễn ra trong thời gian qua ở các tỉnh, thành, cơ quan, đơn vị đã thể hiện điều này và là một trong những biểu hiện điển hình của sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống”. Như thế đã rõ, tôi không thấy GS.Chu Hảo mắc phải một lỗi nào trong các lỗi kể trên của UBKTTW. Thay vào đó trong đầu tôi chỉ nghĩ đến: Triệu Tài Vinh, Nguyễn Nhân Chiến, Trịnh Văn Chiến, Lê Thanh Hải, Tất Thành Cang, Phạm Sĩ Quý…
Còn về “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”? Trên Tạp chí Cộng sản cũng có nêu “chúng ta có thể hiểu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là quá trình tự thay đổi tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, từ đúng thành sai, từ tin tưởng đến hoài nghi, phủ định tính khoa học, tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để chuyển sang sùng bái, tin theo các luận điểm tư sản, sai trái, phản động”.
Như vậy, họ tự khẳng định chủ nghĩa Mác – Lê nin là đúng đắn, là khoa học trong khi cả nhân loại đã xếp xó, bài trừ gần ba chục năm trước. Bên cạnh đó họ còn bắt các đảng viên phải “sùng bái” tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của đảng. Ai đi ngược lại, họ cho là sai trái, phản động. Tôi có thể chắc nịch rằng đến ngay cả ông (nguyên) trưởng ban lý luận Trung ương chưa chắc đã đọc hết Mác – Lê nin chứ đừng nói bắt đảng viên của ông tin theo. Những câu nói vừa rồi hoàn toàn mang tính chất cảnh cáo, đe dọa chứ không có ý nghĩa gì về mặt lý luận.
Thứ hai, việc kỷ luật này nói lên thực trạng gì về nhận thức, tri thức và lý luận của nhà cầm quyền?
Từ hai trích dẫn của UBKTTW và TCCS bên trên chúng ta có thể hiểu cơ bản về tri thức và lý luận của nhà cầm quyền như sau:
1) Họ đã nhận thức được một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên của họ có biểu hiện tham nhũng, sai phạm, phạm pháp, lạm quyền, năng lực kém, suy thoái về đạo đức, lối sống. Đó là vấn đề nan giải mà họ chưa giải quyết được. Tuy nhiên, thực tế họ cố tình bao che, dung dưỡng cho những cán bộ lãnh đạo vi phạm bởi họ còn có thể sử dụng được hoặc các vị đó nằm trong những phe nhóm chưa thể “nhổ cỏ” được.
2) Các câu từ lý luận diễn đạt (đoạn 2) phần lớn chung chung, hình thức, chủ yếu liệt kê các nhóm từ thiếu ý nghĩa: “tự thay đổi tư duy, nhận thức”, “từ đúng thành sai, từ tin tưởng đến hoài nghi, phủ định tính khoa học…”. Chỉ cần đặt ngược lại một câu hỏi: thế nào là tự thay đổi tư duy, nhận thức? Thế nào là đúng, thế nào là sai? Thế nào là tin tưởng, hoài nghi? Thế nào là tính khoa học? Thế nào là phản động?
Nếu đi đến tận cùng lý luận chúng ta sẽ thấy rõ một mớ khái niệm không có nội hàm và ngoại diên. Những khái niệm này phần lớn được đưa vào trong các khẩu hiệu phê bình, từ ngữ có ý nghĩa phán xét, quy chụp, đe dọa chứ ít khi được giải thích tường tận. Thậm chí người viết chúng còn không hiểu nội dung của nó là gì ngoài một ám thị nhất quán: ĐẢNG LUÔN LUÔN ĐÚNG. (Điều 1: Đảng luôn luôn đúng. Điều 2: Nếu hoài nghi, hãy xem lại điều 1).
Thứ ba, từ việc GS.Chu Hảo bị kỷ luật, chúng ta hãy xem thế nào là người trí thức?
Cuộc tranh luận “thế nào là người trí thức?” diễn ra cách nay hơn 6 năm, với sự vào cuộc của hàng loạt các học giả có tên tuổi xung quanh một đề tài “người trí thức và trách nhiệm xã hội của người trí thức”. Mở đầu cuộc tranh luận là quan điểm của giáo sư Ngô Bảo Châu:
Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm ‘trí thức’. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”? Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội. Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng…”. (Báo Thanh Niên, ngày 27-1-2012)
Trên báo Dân Trí đưa ra một loạt quan điểm khác nhau của những học giả nổi tiếng, tôi xin được trích dẫn tại đây:
“Theo Từ điển Tiếng Việt của GS Nguyễn Lân, “trí thức” là người lao động trí óc (trí là hiểu biết, thức là biết). GS Nguyễn Huệ Chi cho rằng “Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội”. Theo TS Giản Tư Trung: “Trí thức là những người có sự hiểu biết và biết thức tỉnh xã hội”. GS Cao Huy Thuần cũng có ý kiến tương tự: “Người trí thức là người không để cho xã hội ngủ”. GS Nguyễn Văn Tuấn thì cho rằng trí thức thật là những người “Đau đáu với vận mệnh đất nước quê hương và sẵn sàng dấn thân…” (Dân Trí, ngày 6-2-2012)
Theo cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thì, “trí thức phải là người luôn giữ được phẩm tiết”. Nhà báo Phan Quang cũng cho rằng “trí thức đích thực thì không bao giờ hèn”. Nhà báo Hữu Thọ cụ thể hơn khi ông cho rằng là trí thức thì phải có ba đặc điểm: “Một là có học vấn cao (học vấn chứ không phải bằng cấp). Hai, nhân cách phải tiêu biểu, nêu gương tốt cho xã hội. Ba là khí tiết bảo vệ chân lý, lẽ phải. Nếu thiếu một trong ba đặc điểm đó thì dù thế nào chăng nữa cũng không thể gọi là trí thức”.
Cố GS Phạm Song khá quyết liệt: “Không có khí tiết, không là trí thức. Không dám nói lên sự thật, không phải là trí thức. Không trung thực, không phải là trí thức. Không dám bảo vệ chân lý, không phải là trí thức”. TS. Chu Hảo cho rằng “Người được coi (hay tự coi) mình là trí thức, ngoài yêu cầu phải đạt tới một trình độ tri thức nhất định, người đó còn phải là người quan tâm đến những vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng và phải có chính kiến trước các vấn đề đó. Đặc biệt, trí thức phải là người có năng lực phê phán và hướng dẫn dư luận”.
Tác giả Paul Alexandre Baran một nhà kinh tế học người Mỹ theo chủ nghĩa Marx. Trong tiểu luận The Commitment of the Intellectual (Sự Dấn thân của Người Trí thức), đăng trên nguyệt san Monthly Rewiew tháng 5 năm 1961. Ông khẳng định, người trí thức trước hết được tạo ra từ phân công lao động xã hội: “Họ làm việc với óc não nhiều hơn là bắp thịt, và sinh sống bằng trí tuệ hơn là bàn tay. Hãy gọi họ là người lao động trí thức. Đó là những nhà kinh doanh, y sĩ, quản đốc xí nghiệp, người phổ biến ‘văn hoá’, nhân viên chứng khoán và giáo sư đại học… sự tách rời hoạt động trí óc khỏi hoạt động tay chân, ‘dân thầy’ khỏi ‘dân thợ’.”
Như thế vẫn chỉ coi họ là người lao động trí thức giống như cách phát biểu của GS Ngô Bảo Châu chứ chưa thể gọi họ là người trí thức. Paul Alexandre Baran cho rằng, để biến một người lao động trí thức thành người trí thức là phải xem xét thái độ của anh ta với những vấn đề đặt ra bởi toàn bộ quá trình lịch sử: “Sự quan tâm của anh ta đối với toàn bộ quá trình lịch sử không phải là một thái độ hời hợt ngoài mặt, nó ăn sâu vào tâm trí anh, và chi phối công việc anh ta làm”. Và ông kết luận rằng: “Sự phi thiêng hoá các ‘giá trị’, ‘phán đoán đạo đức’ và những thứ tương tự, sự nhận diện các nguyên nhân xã hội, kinh tế và tâm lý đã khiến chúng xuất hiện, tiến hoá và biến mất, cũng như sự lột trần loại quyền lợi đặc thù mà chúng phục vụ ở từng thời kỳ lịch sử nhất định… chính là đóng góp riêng lớn nhất mà người trí thức có thể mang đến cho sự tiến bộ của loài người”.
Về trách nhiệm của người trí thức với xã hội. Paul Alexandre Baran đưa ra hai điều kiện: 1) Làm người trí thức phải khao khát nói lên sự thật. 2) Điều kiện khác nữa là phải can đảm, phải sẵn sàng suy nghĩ đến cùng, sẵn sàng “phê phán không xót thương tất cả những gì hiện hữu, không xót thương theo nghĩa là sự phê phán đó sẽ không lùi bước trước những kết luận của chính nó, và theo nghĩa là nó cũng không sợ đụng chạm với bất cứ thứ quyền lực đương tồn nào” (trích lời của K. Marx).
Như vậy, người trí thức tự bản chất là kẻ phê phán xã hội, người mà ưu tư là nhận diện, phân tích sự vật, và bằng cách đó, góp phần vượt qua mọi trở ngại ngăn cản sự vươn tới một trật tự xã hội tốt đẹp, nhân đạo và hợp lý hơn. Do đó, anh ta trở thành lương tri của xã hội và là phát ngôn nhân của những lực lượng tiến bộ mà trong bất kỳ thời kỳ lịch sử nào xã hội cũng có. Tất nhiên là anh ta sẽ bị giai cấp lãnh đạo, luôn luôn tìm cách duy trì hiện trạng, xem như phần tử gây rối, phá hoại, và anh ta cũng sẽ bị ngay chính những người lao động trí thức làm thuê cho họ cáo buộc như kẻ không tưởng, hoặc – trong trường hợp tử tế nhất – nhà siêu hình học, và – trong trường hợp tồi tệ nhất – tên phiến loạn...
Người ta nói rằng, đối với tôi, làm trí thức đồng nghĩa với làm anh hùng. Người ta cũng có thể cho rằng nhân danh tiến bộ của nhân loại để đòi hỏi con người phải chịu đựng tất cả mọi áp lực của bao kẻ cố bám víu lấy quyền lợi đã chiếm hữu được, phải đương đầu với mọi hiểm nguy đang đe dọa hạnh phúc cá nhân của mình là điều không hợp lý. Tôi nhìn nhận rằng yêu sách điều đó quả là quá đáng. Cho nên tôi sẽ không làm thế. Nhưng lịch sử cho chúng ta thấy rằng, ngay trong các thời kỳ đen tối nhất và trong những điều kiện gian nan, thử thách nhất, nhiều cá nhân đã biết vượt lên trên quyền lợi riêng tư ích kỷ của mình để đặt chúng dưới quyền lợi của toàn thể xã hội. Ðiều đó luôn luôn đòi hỏi rất nhiều can đảm, trong sạch và năng lực. Tất cả những gì chúng ta có thể hy vọng hiện nay là đất nước chúng ta cũng sẽ sản xuất được đủ số người, nam cũng như nữ, biết bảo vệ danh dự của người trí thức, chống lại sự cuồng nộ của những quyền lợi hiện đang ở vào địa vị thống trị, và những cuộc tấn công dồn dập của chủ nghĩa bất khả tri, chủ nghĩa ngu dân và tính phi nhân”. (Paul Alexandre Baran)
Như vậy, các học giả khả kính của chúng ta đều cho rằng những phẩm chất của người trí thức cần phải có đó là:
– Là người lao động trí thức
– Khao khát tìm kiếm tri thức
– Dám nói lên thực trạng xã hội
– Dấn thân, làm thức tỉnh xã hội
Lý luận của các Giáo sư Chu Hảo, Nguyên Ngọc, Mạc Văn Trang, Nguyễn Huệ Chi, Cao Huy Thuần, Phạm Song, Nguyễn Văn Tuấn, Giản Tư Trung… hoàn toàn phù hợp với việc đánh giá một người có phải là trí thức hay không. Chỉ cần nhìn vào sự dấn thân của họ trong việc phản ánh hiện thực xã hội là biết đâu là người trí thức, đâu là người lao động trí thức.

Nguồn: BáoTiếng Dân

No comments:

Post a Comment